Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nhiễm khuẩn bệnh viện Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) được định nghĩa là tình trạng nhiễm khuẩn xảy ra trên một bệnh nhân trong quá trình chăm sóc ở một bệnh viện hay cơ sở y tế khác mà không có bất kỳ triệu chứng hay đang trong giai đoạn ủ bệnh trong thời điểm nhập viện [43]. NKBV bao gồm cả những nhiễm khuẩn mắc phải trong bệnh viện nhưng xảy ra sau khi xuất viện và những nhiễm khuẩn do nghề nghiệp ở nhân viên y tế [43].
NKBV liên quan chặt chẽ và là hậu quả của quá trình chăm sóc y tế, mặc dù không phải lúc nào cũng vậy nhưng NKBV là sự thất bại của hệ thống và quá trình chăm sóc y tế cũng như hành vi của con người [43]. Khái niệm phòng ngừa chuẩn Phòng ngừa chuẩn là tập hợp các biện pháp phòng ngừa cơ bản áp dụng cho tất cả bệnh nhân trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không phụ thuộc vào chẩn đoán, tình trạng nhiễm trùng và thời điểm chăm sóc của bệnh nhân , dựa trên nguyên tắc coi tất cả máu, chất tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) đều có nguy cơ lây truyền bệnh. Thực hiện PNC giúp phòng ngừa và kiểm soát lây nhiễm với máu, chất tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) cho dù không nhìn thấy máu, chất tiết qua da không lành lặn và niêm mạc [3]. Phòng ngừa chuẩn bao gồm các biện pháp phòng ngừa áp dụng cho tất cả những bệnh nhân trong bệnh viện không tùy thuộc vào chẩn đoán và tình trạng nhiễm trùng của bệnh nhân [3].
Các biện pháp phòng ngừa chuẩn Vệ sinh tay [9] Vệ sinh tay là nội dung cơ bản của phòng ngừa chuẩn và là biện pháp hiệu quả nhất trong nỗ lực kiểm soát sự lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ sở y tế. Cơ sở y tế phải đảm bảo có nước sạch, có đủ các phương tiện rửa tay và có sẵn 5 các dung dịch sát khuẩn tay nhanh có chứa cồn ở những nơi thăm khám, chăm sóc người bệnh. Trong chăm sóc người bệnh, tránh sờ vào bề mặt các vật dụng, trang thiết bị khi không cần thiết đề phòng lây nhiễm tay từ môi trường hoặc lây nhiễm cho môi trường do tay bẩn 2. Thực hiện quy trình rửa tay thường quy theo đúng hướng dẫn rửa tay của Bộ Y tế [2] bao gồm: + Bước 1: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau.
+ Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu bàn tay kia và ngược lại. + Bước 3: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các ngón tay vào các kẽ ngón tay. + Bước 4: Chà mu các ngón tay này lên lòng bàn tay kia và ngược lại. + Bước 5: Chà ngón cái của bàn tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại.
+ Bước 6: Chà các đầu ngón tay này vào lòng ngón tay kia và ngược lại 3. 5 thời điểm rửa tay khi chăm sóc người bệnh [43]: 1. Trước khi tiếp xúc với bệnh nhân 2. Trước khi làm thủ thuật vô trùng 3.
Sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể 4. Sau khi chăm sóc người bệnh 5. Sau khi đụng chạm vào những vùng xung quanh người bệnh 6 Hình 1. Các thời điểm rửa tay theo WHO 2009 - Mang phương tiện phòng hộ Phương tiện phòng hộ bao gồm: găng tay, khẩu trang, áo choàng, tạp dề, mũ, mắt kính/ mặt nạ và ủng hoặc bao giày.
Mục đích sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân là để bảo vệ NVYT, người bệnh, thân nhân và người thăm bệnh khỏi bị nguy cơ lây nhiễm và hạn chế phát tán mầm bệnh ra môi trường bên ngoài. Nguyên tắc sử dụng phương tiện PHCN là phải tùy thuộc vào mục đích sử dụng. Mang phương tiện phòng hộ khi dự kiến sẽ làm thao tác có bắn máu dịch tiết vào cơ thể. Trình tự mang trang phục tùy thuộc vào mục đích sử dụng, tuy nhiên khi tháo ra cần chú ý tháo phương tiện bẩn nhất ra trước (găng tay).
Trong quá trình mang các phương tiện PHCN không được sờ vào mặt ngoài và phải thay khi rách, ướt. Trước khi rời khỏi phòng bệnh, cần tháo bỏ phương tiện phòng hộ cá nhân. - Thực hiện quy tắc vệ sinh hô hấp 1. Cơ sở y tế cần xây dựng kế hoạch quản lý tất cả các người bệnh có các triệu chứng về đường hô hấp trong giai đoạn có dịch.
Tại khu vực tiếp nhận bệnh cần có hướng dẫn để đưa người bệnh có các triệu chứng về đường hô hấp vào khu vực riêng 3. Mọi người bệnh có các triệu chứng về đường hô hấp đều phải tuân thủ 7 theo các quy tắc về vệ sinh hô hấp. Che miệng mũi bằng khăn giấy và bỏ khăn giấy trong thùng rác hoặc dùng ống tay áo để che nếu không có khăn giấy, không dùng bàn tay 5. Mang khẩu trang y tế 6.
Rửa tay ngay sau khi tiếp xúc với chất tiết 7. Đứng hay ngồi cách xa người khác khoảng 1 mét - Sắp xếp người bệnh thích hợp 1. Nên sắp xếp người bệnh không có khả năng kiểm soát dịch tiết, chất bài tiết, dịch dẫn lưu vào phòng riêng (đặc biệt trẻ em có bệnh đường hô hấp, tiêu hóa) 2. Sắp xếp người bệnh dựa vào các nguyên tắc: 8.
Đường lây truyền của tác nhân gây bệnh 9. Yếu tố nguy cơ lây truyền bệnh 10. Khả năng mắc nhiễm khuẩn bệnh viện - Xử lý dụng cụ y tế để dùng lại cho người bệnh Dụng cụ y tế tái sử dụng đều phải được xử lý trước khi sử dụng cho bệnh nhân khác. Làm sạch, khử khuẩn tiệt khuẩn dụng cụ theo điều 3 của Thông tư 16/2018/TT-BYT quy định về kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [3].
Nhân viên khi xử lý dụng cụ cần mang phương tiện phòng hộ cá nhân thích hợp. - Tiêm an toàn và phòng ngừa phơi nhiễm do vật sắc nhọn 1. Đào tạo cập nhật các kiến thức, thực hành về tiêm an toàn cho NVYT. Cần cung cấp đầy đủ các phương tiện tiêm thích hợp (xe tiêm, bơm kim tiêm, kim lấy thuốc, cồn sát khuẩn tay, hộp đựng vật sắc nhọn.
Thực hành tiêm an toàn theo hướng dẫn của Bộ Y tế [1] 4. Thực hành thủ thuật, phẫu thuật an toàn. Quản lý vật sắc nhọn. Quản lý chất thải sắc nhọn.
Tuân thủ quy trình báo cáo, theo dõi và điều trị sau phơi nhiễm. Xử lý đồ vải theo nguyên tắc giảm tối thiểu giũ đồ vải để tránh lây nhiễm vi sinh vật từ đồ vải sang môi trường không khí, bề mặt và con người 2. Đồ vải phải được thu gom và chuyển xuống nhà giặt trong ngày 3. Đồ vải của người bệnh được thu gom thành hai loại và cho vào túi riêng biệt: đồ vải bẩn và đồ vải lây nhiễm (đồ vải dính máu, dịch, chất thải cơ thể).
Đồ vải lây nhiễm phải bỏ vào túi không thấm nước màu vàng. Buộc chặt miệng túi khi đồ vải đầy 3/4 túi. Không đánh dấu đồ vải của người bệnh HIV/AIDS để phân loại và giặt riêng. Không giũ tung đồ vải khi thay đồ vải hoặc khi đếm giao nhận đồ vải tại nhà giặt.
Không để đồ vải bẩn xuống sàn nhà hoặc để sang giường bên cạnh. Không để đồ vải sạch lẫn với đồ vải bẩn trên cùng một xe khi vận chuyển. Xe đựng đồ vải phải kín, bao phủ đồ vải phải giặt sạch sau mỗi lần chứa đồ vải bẩn. Người thu gom đồ vải phải mang găng vệ sinh, tạp dề, khẩu trang 10.
Đồ vải phải được giặt theo các chương trình khác nhau tùy theo mức độ lây nhiễm, chất liệu. Đồ vải sạch cần được bảo quản trong kho có đầy đủ giá, kệ hoặc trong tủ sạch. - Vệ sinh môi trường Tuân theo đúng nguyên tắc làm vệ sinh từ vùng có nguy cơ thấp đến vùng có nguy cơ cao, từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài. Áp dụng phương pháp lau ẩm, không được quét khô trong các khu vực chuyên môn.
Thường xuyên thay khăn lau, dung dịch khử khuẩn làm sạch và giặt. Người làm vệ sinh phải mang phương tiện phòng hộ thích hợp. - Quản lý chất thải y tế Cơ sở KBCB cần phải xây dựng quy trình thu gom và quản lý chất thải theo 9 Thông tư liên tịch số 58/TTLT-BYT-BTNMT [4] phù hợp với tình hình thực tế của bệnh viện để mọi NVYT có thể áp dụng trong thực hành. Chất thải y tế phải được thu gom, xử lý và tiêu hủy an toàn, cần đặc biệt quan tâm xử lý an toàn chất thải sắc nhọn.
Vai trò của phòng ngừa chuẩn Thực hiện PNC giúp phòng ngừa và kiểm soát lây nhiễm với máu, chất tiết, chất bài tiết (trừ mồ hôi) ngay cả khi không nhìn thấy có sự phơi nhiễm với máu và dịch tiết qua da, niêm mạc. PNC được coi là nền tảng cho việc phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện được sử dụng trong chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân [44]. Việc tuân thủ các biện pháp của PNC đóng vai trò ngăn ngừa sự lây nhiễm trong bệnh viện từ đó giảm tỷ lệ tử vong, giảm thời gian nằm viện, rút ngắn chi phí điều trị cho bệnh nhân. Là một nội dung chủ yếu trong chương trình KSNK bệnh viện.
Thực hiện các biện pháp PNC nhằm mục đích hạn chế sự lây truyền cho NVYT và bệnh nhân cũng như từ bệnh nhân sang môi trường nhằm bảo đảm an toàn và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh [1]. Thực trạng nhiễm khuẩn bệnh viện 1. Trên Thế giới Nhiễm khuẩn bệnh viện đang là mối quan tâm lớn không chỉ với các nước đang phát triển mà kể cả với những nước phát triển, đây cũng vẫn là vấn đề hết sức nan giải. Báo cáo của Tổ chức y tế Thế giới (WHO) [42] cho thấy tại bất kỳ thời điểm nào tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện ở các nước thu nhập cao luôn nằm trong khoảng 3,5%-12%.
Tỷ lệ lưu hành nhiễm khuẩn bệnh viện trung bình là 7,1% ở các nước châu Âu. Tỷ lệ mắc mới ước tính ở Hoa Kỳ năm 2002 là 4,5%, tương ứng với 9,3 ca nhiễm trên 1000 bệnh nhân và 1,7 triệu người bị ảnh hưởng bởi nhiễm khuẩn bệnh viện. Đối với những nước thu nhập trung bình và thấp tỷ lệ NKBV dao động từ 5,7% đến 19,1%. Ở một số nước, tần suất nhiễm trùng liên quan đến việc sử dụng 10 đường truyền tĩnh mạch trung tâm, máy thở và các thiết bị khác có thể cao hơn tới 19 lần so với Hoa Kỳ hoặc Đức.
Ngoài ra trẻ sơ sinh cũng có nguy cơ mắc NKBV. Cao gấp từ 3-20 lần so với các nước phát triển.