Chương 1: Những vấn đề chung về kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng trong ngân hàng. • Chương 2: Thực trạng hệ thống KSNB liên quan đến hoạt động tín dụng tại Ngân hàng BIDV. • Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB liên quan đến hoạt động tín dụng tại Ngân hàng BIDV. -7- CHÖÔNG 1 NHÖÕNG VAÁN ÑEÀ CHUNG VEÀ KIEÅM SOAÙT NOÄI BOÄ ÑOÁI VÔÙI HOAÏT ÑOÄNG TÍN DUÏNG TRONG NGAÂN HAØNG -8- 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KSNB VÀ KSNB TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 1. HỆ THỐNG KSNB THEO COSO 1. Lịch sử ra đời và phát triển lý luận về kiểm soát nội bộ Khái niệm KSNB xuất hiện đầu thế kỷ XX, trong các tài liệu về kiểm toán với ý nghĩa rất đơn giản: các biện pháp nhằm bảo vệ tiền không bị nhân viên biển thủ. Sau đó khái niệm này được mở rộng và đề cập chính thức trong Federal Reserve Bulletin năm 1992, người ta cho rằng KSNB không dừng lại ở việc bảo vệ tài sản mà còn đảm bảo việc ghi chép kế toán chính xác, nâng cao hiệu quả hoạt động và tuân thủ các chính sách của nhà quản lý.
Từ thập niên 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ tại Hoa Kỳ đã xuất bản một loạt báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu KSNB trong các cuộc kiểm toán. Đến giữa thập niên 1970, kiểm soát nội bộ được quan tâm đặc biệt trong các lĩnh vực thiết kế hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiến hệ thống KSNB và vận dụng trong các cuộc kiểm toán. Đạo luật chống hành vi hối lộ ở nước ngoài 1977 được ban hành, các báo cáo của Cohen Commission và Hiệp hội các nhà quản trị tài chính FEI đều đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống kế toán và KSNB. Năm 1979 Uỷ ban chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) đưa ra các điều luật bắt buộc các nhà quản trị phải báo cáo về hệ thống KSNB của tổ chức.
Cũng trong năm này, Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã thành lập uỷ ban tư vấn đặc biệt về KSNB nhằm đưa ra hướng dẫn về việc thiết lập và đánh giá hệ thống KSNB. Từ năm 1980 đến 1985, trước sự sụp đổ của công ty cổ phần có niêm yết thì KSNB được quan tâm nhiều hơn. Các chuẩn mực kiểm toán liên quan đến KSNB được phát triển và sàn lọc thông qua các ban hành và sửa đổi như: -9- Năm 1980, Hiệp hội Kiểm toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) đã ban hành chuẩn mực về đánh giá KSNB của kiểm toán viên độc lập. Năm 1982, AICAP ban hành và sửa đổi hướng dẫn về trách nhiệm của kiểm toán viên độc lập trong việc nghiên cứu và đánh giá KSNB khi kiểm toán báo cáo tài chính.
Từ năm 1985 trở đi, sự quan tâm tập trung vào KSNB với cường độ mạnh mẽ hơn. Năm 1985 Hội đồng quốc gia chống gian lận về báo cáo tài chính còn gọi là Uỷ ban Treadway1 (National Commission of Financial Reporting hay còn gọi là Treadway Commission) được thành lập nhằm khảo sát các nguyên nhân dẫn đến việc gian lận về báo cáo tài chính và tìm cách khắc phục. Năm 1987, báo cáo của Hội đồng có liên quan đến nhiều tổ chức nghề nghiệp đã đưa ra hàng loạt vấn đề về KSNB, nhấn mạnh vai trò của môi trường kiểm soát, các quy tắc về đạo đức, và các vấn đề có liên quan đến các ủy ban kiểm toán và chức năng của kiểm toán nội bộ. Ủy ban tổ chức đồng bảo trợ COSO2 thuộc Hội đồng quốc gia về chống gian lận báo cáo tài chính đã được thành lập nhằm nghiên cứu về kiểm soát nội bộ, cụ thể là: Thống nhất định nghĩa về KSNB để phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau.
Cung cấp đầy đủ một hệ thống tiêu chuẩn để giúp các đơn vị có thể đánh giá hệ thống KSNB để tìm giải pháp hoàn thiện. 1 Ủy ban Treadway là Hội đồng Quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận báo cáo tài chính (National Commission on Financial Reporting), được liên kết trách nhiệm bởi Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA), Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ (AAA) American Accounting Association, Hiệp hội quản trị viên tài chính (FEI), Hiệp hội kế toán viên nội bộ (IIA) và Hiệp hội kế toán viên quản trị (IMA) Institule of Management Account; được thành lập, khảo sát các nguyên nhân dẫn đến việc gian lận báo cáo tài chính và tìm cách khắc phục. 2 COSO-Committee of Sponsoring Organizations – là một ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài chính (thuộc Treadway Commision). - 10 - Báo cáo COSO năm 1992 chưa thật sự hoàn chỉnh nhưng đã tạo lập một cơ sở lý thuyết rất cơ bản về KSNB.
Trên cơ sở Báo cáo COSO 1992, hàng loạt các nghiên cứu phát triển về KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời, chẳng hạn như: Phát triển theo hướng công nghệ thông tin: Năm 1996, báo cáo COBIT nhấn mạnh kiểm soát trong môi trường máy tính. Phát triển theo hướng quốc gia: COSO 1992 là một báo cáo của Hoa Kỳ, vì vậy nhiều quốc gia trên thế giới có khuynh hướng xây dựng một khuôn khổ lý thuyết riêng về KSNB, điển hình như Báo cáo COSO 1995 của Canada, Báo cáo Turnbull 1999 của Anh. Các báo cáo này không có dự khác biệt lớn so với Báo cáo Coso 1992. Phát triển theo hướng chuyên sâu vào ngành nghề cụ thể: Báo cáo Basel 1998 của Ủy ban Basel các Ngân hàng Trung Ương đã công bố khuôn khổ KSNB trong ngân hàng.
Báo cáo Basel 1998 không đưa ra những lý luận mới mà là sự vận dụng các lý luận cơ bản của COSO vào các ngân hàng. Phát triển theo hướng quản trị: Năm 2001, COSO tiếp tục triển khai nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp trên cơ sở Báo cáo COSO 1992. Năm 2004 COSO công bố báo cáo tổng thể dưới tiêu đề: Quản trị rủi ro doanh nghiệp-khuôn khổ hợp nhất. Báo cáo năm 2004 được xây dựng trên cơ sở phát triển báo cáo năm 1992 và tích hợp với quản trị rủi ro tại các đơn vị.
Mặt khác báo cáo COSO năm 2004 cũng đã xác định được những tiêu chuẩn làm cơ sở để đánh giá rủi ro cũng như đề xuất xây dựng chu trình quản lý rủi ro hiệu quả trong công tác quản lý. Định nghĩa hệ thống KSNB Theo báo cáo COSO năm 1992, kiểm soát nội bộ được hiểu như sau: - 11 - Kiểm soát nội bộ là một quá trình do người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện ba mục tiêu dưới đây: Báo cáo tài chính đáng tin cậy. Các luật lệ và quy định được tuân thủ. Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.
Trong định nghĩa trên, kiểm soát nội bộ phản ánh các khái niệm chủ yếu sau: - Kiểm soát nội bộ là một quá trình. Kiểm soát nội bộ bao gồm một chuỗi hoạt động kiểm soát hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất. Quá trình kiểm soát là phương tiện để giúp cho đơn vị đạt được mục tiêu của chính mình. - Kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người.
Kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu…mà phải bao gồm cả những con người trong tổ chức như Hội đồng Quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên khác…Chính con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng. - Kiểm soát nội bộ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, mà không phải đảm bảo tuyệt đối là các mục tiêu sẽ được thực hiện. Vì khi vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ, những yếu kém có thể xảy ra do các sai lầm của con người nên dẫn đến không thể thực hiện được các mục tiêu. Kiểm soát nội bộ có thể ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra.
Hơn nữa một nguyên tắc cơ bản trong việc đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho quà trình kiểm soát không thể vượt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát. Do đó tuy người quản lý có thể nhận thức đầy đủ về các rủi ro nhưng nếu chi phí cho quá trình kiểm soát quá cao thì họ vẫn không áp dụng các thủ tục để kiểm soát rủi ro… - 12 - Khái niệm kiểm soát nội bộ theo Báo cáo COSO năm 2004 Năm 2004, sau một thời gian dài phát triển COSO bổ sung thêm khuôn khổ hệ thống kiểm soát nội bộ năm 1992 bằng một khuôn khổ bổ sung bao gồm quản trị rủi ro và rủi ro chiến lược, và đặt tên như là phương pháp tiếp cận với quản trị rủi ro doanh nghiệp. Khuôn khổ ERM 2004 (quản trị rủi ro) xác định hệ thống kiểm soát nội bộ là một phần không thể tách rời với quản trị rủi ro. Nó xem xét quản trị rủi ro đối với các rủi ro bên trong và bên ngoài có liên quan đến việc xác định chiến lược của đơn vị để đạt được mục tiêu của mình.
Khuôn khổ cho rằng, hệ thống kiểm soát nội bộ là một phần trong quán trình này, theo đó chức năng và các thủ tục kiểm soát nội bộ là công cụ trong việc đảm bảo đạt các mục tiêu. Theo báo cáo của COSO năm 2004, “quản trị rủi ro doanh nghiệp là một quá trình do hội đồng quản trị, các cấp quản lý và các nhân viên của đơn vị chi phối, được áp dụng trong việc thiết lập các chiến lược liên quan đến toàn đơn vị và áp dụng cho tất cả các cấp độ trong đơn vị, được thiết kế để nhận dạng các sự kiện tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến đơn vị và quản trị rủi ro trong phạm vi chấp nhận được của rủi ro nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu của đơn vị”. Như vậy, hệ thống kiểm soát nội bộ theo báo cáo COSO 2004 (quản trị rủi ro – ERM) được định nghĩa gồm 8 bộ phận: Môi trường nội bộ, Thiết lập mục tiêu, Nhận dạng các sự kiện, Đánh giá rủi ro, Đối phó với rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin và truyền thông, Giám sát.