CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Lý luận chung về vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn của doanh nghiệp Để tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, doanh nghiệp đều cần phải có các tài sản nhất định.
Biểu hiện hình thái giá trị của các tài sản đó chính là vốn của doanh nghiệp. Vì vậy, vốn kinh doanh có ý nghĩa tiên quyết đối với hoạt động của doanh nghiệp. Khi có vốn doanh nghiệp mới có thể đầu tư các yếu tố đầu vào để hoạt động sản xuất kinh doanh. Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm về vốn được các nhà kinh tế học đưa ra.
Theo quan điểm của C. Mác: “Vốn (tư bản) là giá trị mang lại giá trị thặng dư, là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất”. Định nghĩa này mang một tầm khái quát lớn, bao hàm bản chất và tác dụng của vốn. Tuy nhiên, do bị hạn chế bởi điều kiện khách quan lúc bấy giờ nên C.
Mác quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế [8, tr. Nhà kinh tế học theo trường phái tân cổ điển, P.A Samuelson thì cho rằng: “Vốn là hàng hoá được sản xuất ra để phục vụ cho quá trình sản xuất mới, là đầu vào của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những quan điểm mới về vốn: “vốn hiểu theo nghĩa hẹp là tiềm lực về tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia, còn hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nguồn nhân lực, nguồn tài lực, chất xám, tiền bạc đã tích lũy của mỗi cá nhân, một doanh nghiệp hay một quốc gia" [8, tr. Có thể nói: “Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện dưới hình thái giá trị của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hình được huy động và đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”[8, tr.
Để quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả, doanh nghiệp phải nắm được các đặc trưng cơ bản của vốn: 5 - Vốn được biểu hiện bằng lượng giá trị của tài sản vật chất dùng để sản xuất ra một lượng giá trị sản phẩm, hàng hóa khác. Vốn và tài sản của doanh nghiệp là hai mặt, hai cách phản ánh khác nhau của cùng một vấn đề, đó là nguồn lực mà doanh nghiệp đưa vào quá trình SXKD. Vốn thể hiện giá trị của nguồn lực, tài sản phản ánh về mặt hiện vật của nguồn lực đó. - Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới phát huy tác dụng để đầu tư vào SXKD, quy mô vốn phải đủ lớn để phát sinh lợi nhuận.
Đặc trưng này đòi hỏi trong quá trình SXKD, doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn sẵn có mà còn phải tìm cách huy động thêm vốn. - Vốn biểu hiện bằng tiền của tài sản, nhưng tiền chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng của vốn. Vốn phải được vận động vì mục đích sinh lời, gắn liền với hoạt động SXKD. Hoạt động SXKD phải được diễn ra liên tục, vốn được quay vòng, sinh lời và gia tăng giá trị doanh nghiệp.
Đặc trưng này có ý nghĩa tiên quyết đến quá trình tái sản xuất mở rộng quy mô doanh nghiệp. - Vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định, vì khi đó mới hướng người quản trị doanh nghiệp quan tâm tới hiệu quả sử dụng vốn. Tuy nhiên, người sử dụng vốn chưa hẳn là chủ sở hữu vốn bởi vốn là “hàng hoá đặc biệt”, tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng, vì vậy các chủ thể tạm thời thừa vốn hoặc tạm thời thiếu vốn có thể thoả thuận để thoả mãn nhu cầu của mình qua hoạt động chuyển nhượng hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng vốn. - Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà còn được biểu hiện bằng tiền của những tài sản vô hình như thương hiệu, bí quyết công nghệ, quyền sở hữu trí tuệ, bằng phát minh sáng chế.Cùng sự phát triển của kinh tế thị trường và tiến bộ không ngừng của khoa học kỹ thuật, tài sản vô hình ngày càng được phát huy sức mạnh và sinh lời cho doanh nghiệp.
- Vốn có giá trị về mặt thời gian, nghĩa là vốn ở từng thời điểm khác nhau thì có giá trị khác nhau do nền kinh tế thị trường chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như: cung cầu, giá cả, khủng hoảng.đồng vốn vận động trong quá trình SXKD vì thế cũng có sự tăng giảm về giá trị. Vì vậy, khi so sánh, 6 phân tích cần đưa vốn về cùng thời điểm, tránh so sánh đơn thuần. Nhận thức được đặc trưng này để thấy, việc sử dụng vốn đúng mục đích đối với doanh nghiệp là điều rất quan trọng. Vai trò của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh đã và đang có tầm quan trọng đặc biệt đối với các doanh nghiệp, đây là môi trường lý tưởng để cho vốn bộc lộ đầy đủ bản chất, vai trò và tầm quan trọng của nó.
Cụ thể: - Vốn kinh doanh có vai trò quyết định xuyên suốt từ khi thành lập đến quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Theo quy định của Nhà nước, khi thành lập doanh nghiệp, tùy thuộc ngành nghề đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp phải có lượng vốn tối thiểu để hoạt động gọi là vốn điều lệ hay vốn pháp định. Theo đó, nguồn hình thành vốn và phương thức huy động vốn mà doanh nghiệp có tên công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty liên doanh, doanh nghiệp tư nhân…Vốn kinh doanh là điều kiện tiền đề cho doanh nghiệp có thể thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, là cơ sở để doanh nghiệp tính toán, hoạch định các chiến lược và kế hoạch kinh doanh. - Vốn kinh doanh giúp các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động SXKD một cách liên tục và hiệu quả.
Trong quá trình hoạt động SXKD, vốn trong doanh nghiệp không ngừng được gia tăng tương ứng là sự tăng trưởng về quy mô sản xuất, đảm bảo quá trình tái sản xuất được diễn ra liên tục. Ngược lại, nếu doanh nghiệp thiếu vốn, sản xuất bị đình trệ, không đảm bảo thực hiện được nghĩa vụ với khách hàng, nhà cung cấp, người lao động…Nếu khó khăn về vốn tiếp tục kéo dài nhất định sẽ dẫn đến thua lỗ, phá sản doanh nghiệp. - Vốn kinh doanh cũng là một trong các tiêu chí để phân loại quy mô của doanh nghiệp: loại lớn, trung bình, nhỏ hay siêu nhỏ. Vốn là tiềm năng quan trọng để doanh nghiệp sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có về sức lao động, nguồn cung ứng, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
- Vốn kinh doanh tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Vốn kinh doanh không những là điều kiện để doanh nghiệp khẳng định được vị thế của mình trên thị trường mà còn giúp sức cạnh tranh của 7 doanh nghiệp tăng lên. Doanh nghiệp ngoài việc trang bị vốn pháp định thì việc đa dạng về kênh huy động vốn cũng tạo ra ưu thế cạnh tranh, sự trỗi dậy của các tập đoàn kinh tế khiến các doanh nghiệp phải không ngừng trang bị, bổ sung vốn kinh doanh. - Vốn kinh doanh là công cụ phản ánh, kiểm tra và đánh giá quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Từ sự vận động của vốn, thông qua các nhóm chỉ tiêu tài chính được phân tích, đánh giá như: hiệu quả hoạt động, hiệu quả sử dụng yếu tố đầu vào, chỉ số thanh toán, chỉ số sinh lời, cơ cấu vốn… mà nhà quản lý có thể nhận biết được trạng thái vốn trong các khâu của quá trình SXKD từ đó có những điều chỉnh phù hợp với mục tiêu, chiến lược kinh doanh. Phân loại vốn kinh doanh Vốn trong doanh nghiệp thường được chia thành nhiều phần khác nhau, tùy theo thời hạn, mục đích và tính chất sử dụng vốn người sử dụng phân chia thành từng loại khác nhau. Với mỗi tiêu thức phân loại, vốn sẽ được nhìn nhận, xem xét và đánh giá, qua đó nắm được hình thái vận động và đặc tính của vốn để sử dụng vốn có hiệu quả [6]. Căn cứ theo tính luân chuyển của vốn Vốn được chia làm 2 loại: Vốn cố định và vốn lưu động.
Vốn cố định: Vốn cố định là một bộ phận của vốn SXKD được đầu tư ứng trước hình thành TSCĐ của doanh nghiệp. Quy mô của TSCĐ phụ thuộc vào quy mô của VCĐ được đầu tư nhiều hay ít và ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực SXKD của doanh nghiệp. Ngược lại, từ đặc điểm vận động của TSCĐ sử dụng trong hoạt động SXKD có ảnh hưởng quyết định và chi phối đặc điểm tuần hoàn, luân chuyển VCĐ. + Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh vì VCĐ có biểu hiện về mặt hiện vật là tài sản cố định mà TSCĐ lại có thời gian luân chuyển dài khi tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp và phát huy tác dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh.
8 + Vốn cố định luân chuyển dần, từng phần vào mỗi chu kỳ sản xuất. Khi tham gia vào chuỗi các chu kỳ sản xuất nối tiếp nhau, TSCĐ không bị thay đổi hình thái hiện vật ban đầu nhưng tính năng và công suất của nó bị giảm dần, tức là bị hao mòn, giá trị và giá trị sử dụng cũng giảm đi. Theo đó, vốn cố định gồm 2 bộ phận: phần hao mòn của TSCĐ và phần giá trị còn lại của TSCĐ. Phần khấu hao được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất dưới dạng chi phí khấu hao và được luỹ kế vào quỹ khấu hao, đây là nguồn tích lũy để tái đầu tư TSCĐ duy trì năng lực sản xuất cho doanh nghiệp.
+ Vốn cố định hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ hết thời gian sử dụng. Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần VCĐ được luân chuyển làm tăng giá trị sản phẩm, tương ứng là giảm giá trị đầu tư ban đầu của TSCĐ. Khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị TSCĐ được chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất thì VCĐ cũng hoàn thành một vòng luân chuyển. Trong các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, vốn cố định là bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng vốn nói chung hay vốn đầu tư nói riêng.
Do đó, sử dụng vốn cố định có hiệu quả hay không ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.