phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Hòa Phát Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Hòa Phát 2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Xung quanh vấn đề nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn đã có khá nhiều văn bản và công trình đề cập đến. Trong đó, đáng chú ý có một số công trình nhƣ sau: Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Trần Tuấn Anh (2015), với tiêu đề “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần xây dựng và đầu tƣ 492”, Học viện Tài chính đã nghiên cứu, phân tích về thực trạng hiệu quả sử dụng vốn của công ty cổ phần xaayd ựng và đầu tƣ 492 giai đoạn 2012-2014. Luận văn đã góp thêm vào những lý luận về sử dụng vốn, chất lƣợng hiệu quả sử dụng vốn và các nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng vốn.
Qua nghiên cứu thực trạng tác giả cũng đã đánh giá những tồn tại trọng sử dụng vốn tại công ty cổ phần xây dựng và đầu tƣ 492 và đƣa ra một số giải pháp khắc phục những tồn tại này nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Đề tài luận văn thạc sĩ “Nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần xây dựng và thƣơng mại 423” (Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2013), tác giả Trần Tiến Quyết đã xác định việc sử dụng vốn là một trong những yếu tố ảnh hƣởng tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cụ thể: “Việc không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kiểm soát chi phí quản lý doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinhh doanh”. Tác giả đã đƣa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là: “ Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh” Bài viết “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn”, tác giá Bùi Thị Anh Trâm, Báo An ninh thủ đô, ngày 28/3/2013. Trong phạm vi bài viết, tác giả đề cập đến nội dung các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; Thực hiện sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả.
Đây là bài viết có tính chất tham khảo rất hay, tác giả đã đề cập đến nhiều giải pháp nhƣ: xây dựng cơ chế quản lý, kiểm tra, đẩy mạnh thu hồi công 3 nợ một cách thƣờng xuyên, nâng cao năng lực nguồn nhân lực, hiện đại hóa trang thiết bị… 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn 1. Khái niệm vốn kinh doanh Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, để mỗi doanh nghiệp có thể thực hiện đƣợc việc hoạt động sản xuất kinh doanh thì các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản nhƣ: Đối tƣợng lao động, sức lao động và tƣ liệu lao động. Để có đƣợc những yếu tố cơ bản này thì mỗi doanh nghiệp cần phải bỏ ra một số vốn nhất định phù hợp với quy mô và các điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp sử dụng số vốn bỏ ra này để mua sắm các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh của mình. Dƣới sự tác động của lao động lên đối tƣợng lao động thông qua tƣ liệu lao động, hàng hóa, dịch vụ sẽ đƣợc tạo ra và phục vụ tiêu dùng trên thị trƣờng. Vì vậy, để đảm bảo đƣợc sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, số tiền thu đƣợc qua quá trình tiêu thụ sản phẩm trên thị trƣờng, phải đảm bảo bù đắp đƣợc toàn bộ chi phí đã bỏ ra và có lãi. Nhƣ vậy, số vốn bỏ ra ban đầu không những đƣợc bảo toàn mà còn đƣợc tăng thêm do hoạt động sản xuất, kinh doanh mang lại.
Toàn bộ giá trị bỏ ra ban đầu và ở các quá trình tiếp theo cho sản xuất, kinh doanh đƣợc gọi là vốn kinh doanh. Từ đó có thể hiểu: ” Vốn kinh doanh của DN là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kỉnh doanh nhằm mục đích sình lời. Thành phần của vốn kinh doanh Để quản lý và sử dụng vốn kinh doanh hiệu quả, doanh nghiệp cần thiết phải tiến hành phân loại VKD theo các tiêu chí khác nhau. Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn thì VKD đƣợc chia thành hai bộ phận là: Vốn cố định và Vốn lƣu động a) Vốn cố định: Là một bộ phận của vốn kinh doanh ứng trƣớc về tài sản cố định.
Đặc điểm của nó là chu chuyển giá trị dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất đƣợc TSCĐ về mặt giá trị. 4 Là số vốn đầu tƣ bỏ ra trƣớc để mua sắm, xây dựng các TSCĐ nên quy mô của VCĐ nhiều hay ít sẽ quyết định đến quy mô của TSCĐ, ảnh hƣởng rất lớn đến trình độ trang bị kỹ thuật công nghệ và năng lực SXKD của DN. Ngƣợc lại, những đặc điểm kinh tế kỹ thuật của TSCĐ trong quá trình sử dụng cũng có những ảnh hƣởng quyết định đến đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển VCĐ. Sự vận động của VCĐ trong quá trình SXKD có thể đƣợc khái quát qua một số nét đặc thù sau: - VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD.
Điều này xuất phát từ đặc điểm của TSCĐ là được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ kinh doanh. - VCĐ được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ SXKD, biểu hiện dưới hình thức chi phí khấu khao TSCĐ. Sau nhiều chu kỳ SXKD, VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyên. Xét về mặt lý thuyết, trong quá trình tham gia vào hoạt động SXKD, một bộ phận VCĐ đƣợc rút ra khỏi quá trình chu chuyển của vốn và đƣợc tích luỹ lại dƣới hình thái vốn tiền tệ.
Trong khi đó, một bộ phận giá trị của vốn vẫn đƣợc “cố định” lại trong hình thái hiện vật của TSCĐ và bộ phận này tuy không ngừng giảm đi cho đến khi giá trị bằng không. Đó là khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, vốn cố định hoàn thành một vòng chu chuyển. Từ những đặc điểm luân chuyển của VCĐ đòi hỏi doanh nghiệp khi đầu từ vào TSCĐ phải tính toán một cách cẩn thận đến hiệu quả của vốn bỏ ra. Nếu việc đầu tƣ không đồng bộ sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí vốn lớn, ảnh hƣởng xấu đến hiệu quả kinh doanh của DN.
Việc quản lý VCĐ của DN cũng đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ trên cả 2 mặt: Quản lý về mặt hiện vật và Quản lý về mặt giá trị. b) Vốn lưu động: VLĐ là một bộ phận của VKD ứng ra để hình thành nên TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình SXKD của DN đƣợc diễn ra thƣờng xuyên, liên tục. TSLĐ sản xuất bao gồm những tài sản ở khâu dự trữ sản xuất nhƣ: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu.và tài sản ở khâu sản xuất nhƣ sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, chi phí trả trƣớc,. đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc chế biến.
5 TSLĐ lƣu thông gồm: thành phẩm hàng hóa chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán.Trong quá trình SXKD, TSLĐ sản xuất và TSLĐ lƣu thông luôn vận động, thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình SXKD đƣợc tiến hành liên tục. Khác với TSCĐ, trong quá trình sản xuất tài sản lƣu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó đƣợc chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm. Những đặc điểm này của TSLĐ đã quyết định đến sự vận động chu chuyển của VLĐ, đó là: - Trong quá ừình tham gia hoạt động SXKD, VLĐ thƣờng xuyên vận động và chuyển hoá qua các hình thái biểu hiện khác nhau. Đối với DN sản xuất, trƣớc tiên VLĐ tồn tại dƣới hình thái vốn bằng tiền, sau đó chuyển hoá sang hình thái vốn vật tƣ dự trứ.
Khi DN tiến hành sản xuất, vốn tiếp tục chuyển hoá sang hình thái sản phẩm dở dang. Kết thúc quá trình sản xuất, vốn chuyển hoá sang trạng thái vốn thành phẩm và chuyển 'hoá về hĩnh thái ban đầu - vốn tiền tệ khi quá trình tiêu thụ kết thúc ( T - H. Nhƣ vậy, tại một thời điểm nhất đinh, VLĐ đồng thời tồn tại dƣới nhiều hình thái khác nhau trong các giai đoạn chu chuyển của vốn. - VLĐ chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất.
Khi tham gia vào hoạt động SXKD, VLĐ chu chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và đƣợc thu hồi toàn bộ khi két thúc chu kỳ kinh doanh của DN. VLĐ hoàn thành một vòng chu chuyển sau một chu kỳ kinh doanh. Do quá trình sản xuất kinh doanh của DN diễn ra liên tục nên quá trình tuần hoàn của VLĐ đƣợc lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ, tạo thành sự chu chuyển của VLĐ. Chính vì vậy, VLĐ thƣờng xuyên có các bộ phận tồn tại dƣới các hình thái khác nhau trong quá trình sản xuất nhƣ: vốn dự trữ, vốn sản xuất và vốn lƣu thông.
Những đặc trưng cơ bản của vốn kinh doanh - Vốn phải đại diện cho một lƣợng giá trị tài sản nhƣ: nhà xƣởng, máy móc, đất đai, quyền phát minh, sáng chế - Vốn phải vận động, sinh lời 6 - Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, vốn là một loại hàng hóa đặc biệt vì nó có giá trị và giá trị sử dụng nhƣ các loại hàng hóa khác - Vốn gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải quản lý chặt chẽ - Vốn có giá trị về mặt thời gian điều này cũng có nghĩa là phải xét tới yếu tố thời gian của vốn. Trong điều kiện kinh tế thị trƣờng do ảnh hƣởng của giá cả, lạm phát nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm khác nhau cũng khác nhau. Chính vì vậy, khi quyết định bỏ vốn đầu tƣ và xác định hiệu quả do hoạt động đầu tƣ mang lại, các DN phải xem xét đến giá trị thời gian của vốn.