Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE SỬ DỤNG VON LƯU ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM, PHAN LOẠI VÀ VAI TRO CUA VON LƯU DONG 1. Khái niệm vốn lưu động Cũng như các ngành sản xuất khác, ngành sản xuất hàng tiêu dùng nhanh cơ bản muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm thì cần phải có đủ ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất đó là: sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Trong đó sức lao động là tổng hợp thê lực, trí lực của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất xã hội.
Mọi quá trình vận động phát triển sản xuất kinh doanh đều đòi hỏi sức lao động ngày càng có chất lượng cao hơn. Tư liệu lao động là một vật hay một hệ thống những vật làm nhiệm vụ truyền dan sự tác động của con người đến đối tượng lao động, làm thay đổi hình thái tự nhiên của nó, biến đối tượng lao động thành sản phẩm thoả mãn nhu cầu của con người. Đối tượng lao động là tất cả những vật mà con người tác động vào nhằm biến đổi nó phù hợp với mục đích sử dụng. Bao gồm các loại có sẵn trong thiên nhiên như cây gỗ trong rừng nguyên thuỷ, hải sản ngoài biển khơi.
và các loại đã qua chế biến như nguyên vật liệu, sản phẩm do dang, thành phẩm. chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được dịch chuyên toàn bộ, một lần vào gia tri sản phẩm. Những đối tượng lao động nói trên nếu xét về hình thái hiện vật thi được gọi là tài sản lưu động, còn xét về hình thái giá trị thì được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để hình thành các tài sản lưu động, doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn đầu tư nhất định.
Vi vậy ta có thé hiểu vốn lưu động là số tiền ứng trước dé đầu tư, mua sắm tài sản lưu động dé dam bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên liên tục. Phân loại vốn lưu động Phân loại vốn lưu động cần căn cứ vào một số tiêu thức nhất định để sắp xếp vốn lưu động theo từng loại, từng nhóm nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý và mục đích sử dụng. Vì vậy việc phân loại có thể căn cứ vào một số tiêu thức sau: 1. Phân loại theo vai trò của từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm luân chuyển của vốn lưu động chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động.
Vì vậy, vốn lưu động của các doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh bao gồm: - Vốn lưu động trong khâu dự trữ gồm: Giá trị các khoản nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ. - Vốn lưu động trong khâu sản xuất gồm: các khoản giá trị sản phẩm đở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí chờ kết chuyên. - Vốn lưu động trong khâu lưu thông gồm: Các khoản giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền, các khoản vốn đầu tư ngăn hạn, các khoản vốn trong thanh toán. Các quá trình trên diễn ra thường xuyên liên tục lặp đi lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyên của vốn lưu động.
Do các nhà doanh nghiệp sản xuất hoạt động theo phương thức T - H - SX -H' -T' nên hình thái ban đầu của vốn lưu động là tiền tệ rồi chuyển sang hình thái nguyên vật liệu dự trữ. Qua giai đoạn san xuất, nguyên vật liệu được đưa vào chế tạo thành sản phâm hoặc bán thành phẩm. Kết thúc quá trình vận động, sau khi sản phẩm đã được tiêu thụ vốn tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất và thường xuyên chuyền từ dạng này sang dạng khác. Trong các doanh nghiệp khác nhau thì sự vận động của vốn lưu động là khác nhau.
Chang han, trong các doanh nghiệp thương mại thì phương thức vận động của von la T— H— T”. Do vậy bắt đầu quá trình vận động vốn lưu động từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái hàng hoá và kết thúc lại trở về hình thái tiền tệ chứ không qua giai đoạn sản xuất, chế biến. Như vậy, chúng ta có thể khái quát những nét đặc thù về sự vận động của vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh như sau: * Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn lưu động được phân bổ khắp cả trong và ngoài doanh nghiệp. Nó có liên quan đến tất cả mọi người trong doanh nghiệp và những đối tượng ngoài doanh nghiệp.
* Vốn lưu động được chuyển dịch toàn bộ và một lần vào giá tri sản phẩm. * Vốn lưu động vận động thường xuyên và nhanh hơn vốn cô định. Vốn lưu động biến đổi từ hình thái này qua hình thái khác và sau đó sẽ chuyền về hình thái ban đầu. Qua quá trình vận động, vốn lưu động không chỉ biến đổi về hình thái, mà quan trọng hơn nó còn tạo nên sự biến đôi về gia tri.
Những thông tin về sự biến đổi này rat cần thiết cho sự tim ra phương hướng, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, mặt khác việc thu hồi vốn lưu động sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh có tác dụng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp vì có thé thu hồi vốn lưu động thi doanh nghiệp mới có thé tiến hành mua sắm vật tư, thiết bi, trang trải nợ nần phục vụ cho chu kỳ sản xuất kinh doanh tiếp theo. Phân loại von lưu động theo hình thái biểu hiện Theo tiêu thức này thì vốn lưu động bao gồm: - Vốn vật tư hàng hoá: Là các khoản vốn lưu động biểu hiện bằng hình thái hiện vật hàng hoá cụ thé như nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm do dang, bán thành phẩm, hang hoá. - Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyên, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn. Ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết câu vốn lưu động cũng khác nhau, việc phân tích kết cấu vốn lưu động sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng về số vốn lưu động mà mình đang quản lý và sử dụng, từ đó xác định đúng các trọng điểm và biện pháp quản trị vốn lưu động có hiệu quả hơn với điều kiện cụ thé của doanh nghiệp.
Mặt khác, thông qua việc thay đổi kết cau vốn lưu động của mỗi doanh nghiệp trong từng thời kỳ khác nhau ta có thể thấy được những biến đối tích cực hay những hạn chế về mặt chất lượng trong công tác quản trị vốn lưu động của từng doanh nghiệp. Phân loại vẫn lưu động theo nguôn hình thành Trong nền kinh tế thị trường, vốn lưu động có thé được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên căn cứ vào nội dung kinh tế, người ta có thé chia làm 2 nguồn hình thành cơ bản sau: - Nguồn vốn chủ sở hữu - Nguồn vốn vay ngắn hạn a) Nguồn vốn chủ sở hữu Đối với một doanh nghiệp, tong số tiền lớn hay nhỏ là rat quan trọng. Song trong nền kinh tế thị trường, điều quan trong hon là khối lượng vốn do doanh nghiệp đang nắm giữ được hình thành từ nguồn nào.
Nguồn vốn của doanh nghiệp thé hiện trách nhiệm pháp ly và quyền sở hữu của người chủ về các tài sản hiện có của doanh nghiệp von chủ sở hữu được tạo nên từ các nguồn sau: * Vốn ban đầu của chủ sở hữu: Là số tiền đóng góp của các nhà đầu tư người chủ sở hữu doanh nghiệp nó phụ thuộc vao loại hình của doanh nghiệp. - Đối với doanh nghiệp nhà nước: Nguồn vốn chủ sở hữu do nhà nước (hay ngân sách nhà nước) câp phát nên được gọi là vôn ngân sách nhà nước. - Đối với công ty cổ phần: Nguồn vốn này được biểu hiện dưới hình thức vốn cô phần, vốn này do những người sáng lập công ty phát hành cô phiếu để huy động thông qua việc bán các cô phiếu đó. - Đối với doanh nghiệp tư nhân: Nguồn vốn này do chủ doanh nghiệp đầu tư hay các hội viên liên kết cùng nhau bỏ ra dé đầu tư hình thành doanh nghiệp, nên được gọi là vốn tự có.
- Đối với doanh nghiệp liên doanh: Nguồn vốn này được biểu hiện dưới hình thức vốn liên doanh, vốn này được hình thành do sự đóng góp giữa các chủ đầu tư hoặc các doanh nghiệp đề hình thành các doanh nghiệp mới. * Vốn doanh nghiệp tự bổ sung: Là số vốn được bồ sung hàng năm từ lợi nhuận hoặc từ các quỹ của doanh nghiệp. Ngoài ra cần phải kế đến số vốn do các chủ sở hữu bổ sung mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Bên cạnh đó, vốn chủ sở hữu còn bao gồm chênh lệch đánh giá lại tài sản, quỹ phát triển sản xuất, quỹ dự trữ, chênh lệch tỷ giá, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí sự nghiệp.
b) Nguồn von tin dụng (von vay). Trong nên kinh tế thị trường, ngoài nguồn vốn chủ sở hữu nguồn vốn tín dụng vẫn luôn được coi là nguồn vốn quan trọng thường xuyên và hiệu quả đối với hầu hết các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cả trên lý thuyết cũng như thực tế. Vốn vay có ý nghĩa quan trọng không những chỉ ở khả năng tài trợ các nhu cầu bổ sung cho việc mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn tạo điều kiện linh hoạt trong việc thu hẹp quy mô kinh doanh bằng việc hoàn trả các khoản nợ đến hạn và giảm số lượng vốn vay. Nguồn vốn tin dung được thực hiện dưới các phương thức chủ yếu sau: -Vốn tín dụng ngân hàng: Là các khoản vốn mà các doanh nghiệp vay các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm hay các tổ chức kinh doanh khác.
theo nguyên tắc hoàn trả theo thời gian quy định. Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng quan trọng nhất. Nó có quan hệ với các thành phan kinh tế trong xã hội và thoả mãn phan vốn khá lớn đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Việc sử dụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động không chỉ giúp cho doanh nghiệp khắc phục được những khó khăn về vốn mà còn có tác dụng phân tán rủi ro trong kinh doanh.