CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc trưng, vai trò vốn kinh doanh 1. Khái niệm vốn kinh doanh Vốn là một phạm trù kinh tế trong lĩnh vực tài chính, gắn liền với nền sản xuất hàng hoá, là điều kiện tiên quyết đối với hoạt động SXKD của DN.
Để tiến hành hoạt động SXKD, các DN phải bỏ ra một số vốn tiền tệ nhất định để mua sắm các yếu tố đầu vào như: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh. Số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư mua sắm hình thành tài sản cần thiết cho hoạt động SXKD của DN được gọi là VKD của DN [20, tr 449]. Vốn của DN là nguồn lực do DN kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Lợi ích kinh tế trong tương lai của vốn là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của DN hoặc làm giảm bớt các nguồn tiền mà DN cần phải chi ra.
Vốn được biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tư và sử dụng vào hoạt động SXKD nhằm mục đích thu lợi nhuận [20, tr449]. Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà còn được biểu hiện bằng tiền của những tài sản vô hình như vị trí địa lý, thương hiệu, công nghệ sản xuất, bằng phát minh sáng chế…. Dù dưới hình thức nào thì vốn cũng nhằm đảm bảo quá trình SX được diễn ra thường xuyên, liên tục. Từ những phân tích trên tác giả cho rằng: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền đã ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các tài sản cần thiết phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
17 Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của DN, mà còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hình thành và phát triển DN. * Đặc trưng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Để nâng cao hiệu quả quản trị và sử dụng VKD, DN cần phải nhận thức đầy đủ về các đặc trưng cơ bản của VKD. Thứ nhất, vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định (Tài sản vô hình và hữu hình). Khi xác định giá trị thực của một DN ngoài việc xác định vốn cố định, vốn lưu động, doanh nghiệp còn căn cứ vào lợi thế thương mại, sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, vị trí địa lý, ….
Thứ hai, mục đích vận động của VKD là phải sinh lời: vốn phải được biểu hiện bằng tiền, nhưng không phải tiền nào cũng được gọi là vốn. Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị; đồng thời giá trị ở điểm cuối cùng phải lớn hơn điểm xuất phát. Đó cũng là nguyên lý đầu tư, sử dụng, bảo toàn và gia tăng VKD. Thứ ba, vốn phải được tích tụ và tập trung đến một quy mô nhất định có khả năng đầu tư dù là nhỏ nhất để tạo ra lợi nhuận.
Thứ tư, vốn có giá trị về mặt thời gian. Đó là do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như khả năng sinh lời và rủi ro như: lạm phát, giá cả thay đổi, tiến bộ khoa học công nghệ phát triển không ngừng… nên sức mua của đồng tiền ở mỗi thời điểm là khác nhau. Thứ năm, vốn phải gắn với chủ sở hữu nhất định. Khi gắn với một chủ sở hữu nhất định thì vốn mới được quản trị và sử dụng hợp lý, hiệu quả.
Thứ sáu, vốn được coi là loại hàng hóa đặc biệt vì nó có giá trị và giá trị sử dụng như mọi hàng hóa khác. Nhưng khác với hàng hoá thông thường, vốn khi bán ra sẽ không bị mất đi quyền sở hữu vốn mà chỉ bị mất đi quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian đã thỏa thuận trước. 18 Qua nghiên cứu khái niệm, đặc điểm của VKD và đi sâu phân tích về các bộ phận cấu thành nên VKD, các nhà quản trị doanh nghiệp có thể nhận thức được rõ hơn về VKD, ý nghĩa và tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sử dụng VKD. Qua đó các nhà quản trị phải có các biện pháp bảo toàn và phát triển vốn, có các biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng VKD trong doanh nghiệp.
Có như vậy DN mới ngày càng lớn mạnh, có uy tín và vị thế trên thương trường, từ đó sẽ có nhiều cơ hội làm ăn và phát triển trong tương lai. Vai trò của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp Hiện nay, với nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh đã và đang giữ vai trò quan trọng đặc biệt trong các doanh nghiệp. Kinh tế thị trường thực sự là môi trường để cho vốn bộc lộ đầy đủ bản chất, vai trò và tầm quan trọng của nó. Thứ nhất: Vốn kinh doanh có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp Vốn là một yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh, là điều kiện tiên quyết không thể thiếu trong quá trình SXKD của DN.
Nếu không có vốn thì quá trình SXKD bị ngừng trị, vốn kinh doanh là cơ sở để tính toán, hoạch định các chiến lược và kế hoạch kinh doanh của DN. Về mặt pháp lý, mọi DN dù ở thành phần kinh tế nào, để được thành lập và đi vào hoạt động thì nhất thiết cần phải có lượng vốn cần thiết tối thiểu theo quy định của nhà nước hay còn gọi là vốn pháp định. Vì vậy, vốn kinh doanh là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của DN. Thứ hai: Vốn kinh doanh giúp các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn kinh doanh của một doanh nghiệp không ngừng được tăng lên tương ứng với sự tăng trưởng quy mô sản xuất, đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành một cách liên tục.
19 Nếu doanh nghiệp thiếu vốn kinh doanh sẽ gây ra những tổn thất như: Sản xuất đình trệ, không đảm bảo thực hiện các hợp đồng đã ký kết với khách hàng, không đủ tiền để thanh toán với nhà cung ứng kịp thời dẫn tới mất tín nhiệm trong quan hệ mua bán, và do đó sẽ không giữ được khách hàng, v.Những khó khăn đó kéo dàì nhất định sẽ dẫn đến thua lỗ, phá sản doanh nghiệp. Vậy, DN phải luôn bảo đảm đầy đủ, kịp thời vốn kinh doanh cho quá trinh sản xuất, đáp ứng nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thứ ba: Vốn kinh doanh là một trong những tiêu chí để phân loại quy mô của doanh nghiệp Là căn cứ để xếp loại doanh nghiệp vào loại lớn, nhỏ hay trung bình và là một trong những tiềm năng quan trọng để doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nguồn lực hiện có và tương lai về sức lao động, nguồn cung ứng, phát triển mở rộng thị trường. Thứ tư: Vốn kinh doanh giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Vốn kinh doanh không những là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp khẳng định được chỗ đứng của mình mà còn là điều kiện thuận lợi tạo nên sự cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Trong cơ chế thị trường, dưới tác động của quy luật canh tranh, cùng với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, các doanh nghiệp phải không ngừng phát triển vốn kinh doanh của mình, cho nên nhu cầu về vốn kinh doanh của doanh nghiệp là rất lớn. Để đảm bảo chiến thắng trong cạnh tranh, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, tất yếu các doanh nghiệp phải chủ động nắm bắt nhu cầu thị trường, đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm, hạ giá thành. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải có nhiều vốn. Vốn đã trở thành động lực và là yêu cầu cấp bách đối với tất cả các doanh nghiệp.
20 Như vậy, vốn kinh doanh có vai trò quan trọng, là điều kiện tiên quyết trong quá trình đầu tư, phát triển của DN, tạo lợi thế cạnh tranh và đứng vững trong nền kinh tế thị trường. Thứ 5: Vốn kinh doanh là công cụ phản ánh và đánh giá giá trị tài sản của doanh nghiệp Thông qua sự vận động của vốn kinh doanh, các chỉ tiêu tài chính như: hiệu quả sự dụng vốn, hệ thống thanh toán, hệ số sinh lời, cơ cấu các nguồn vốn và cơ cấu phân phối sử dụng vốn… chủ DN có thể nhận biết được trạng thái vốn trong các khâu của quá trình SXKD. Với khả năng đó, chủ DN có thể phát hiện ra các khuyết tật và nguyên nhân của nó để điều chỉnh quá trình kinh doanh nhằm đạt mục tiêu xác định. Nhu cầu vốn đầu tư cho hoạt động SXKD ngày càng tăng nên việc tổ chức huy động, sử dụng VKD ngày càng trở nên quan trọng đối với mỗi DN.
Huy động vốn đầy đủ và kịp thời có thể giúp DN chớp thời cơ kinh doanh, tạo được lợi thế trong kinh doanh. Việc lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn thích hợp sẽ giảm bớt chi phí sử dụng vốn, điều đó tác động rất lớn đến hiệu quả sử dụng VKD của DN. Đối với DN, VKD là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời và phát triển của DN, là cơ sở quan trọng cho sự tồn tại của DN trước pháp luật. Phân loại vốn kinh doanh Phân loại VKĐ là yêu cầu cơ bản của người quản lý và sử dụng vốn.
Tùy theo mục đích của người quản lý mà có các cách phân loại khác nhau nhưng nhìn chung vốn được phân loại căn cứ theo hai tiêu thức căn bản: căn cứ vào đặc điểm chu chuyển và nguồn hình thành vốn của doanh nghiệp. Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển của vốn Theo đặc điểm luân chuyển của vốn kinh doanh, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành: vốn cố định và vốn lưu động. Vốn cố định 21 Vốn cố định của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSCĐ dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác, vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của các TSCĐ trong doanh nghiệp [20, tr 453].
Đặc điểm luân chuyển của VCĐ luôn bị chi phối bởi các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của TSCĐ trong doanh nghiệp.