phần mở đầu và kết luận, luận văn sẽ được trình bày theo 3 chưong gồm: C h ư ơ n g 1 : Những vấn đề cơ bản về rủi ro hoạt động và quản trị rủi ro hoạt động trong các ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro hoạt động trong hệ thống NHCT VN C h ư ơ n g 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro hoạt động trong hệ thống NHCT VN 3 C hương 1 NHỮNG VẤN ĐỂ C ơ BẢN VỂ RỦI RO HOẠT ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO HOẠT ĐỘNG TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG M ẠI 1. Khái niệm, chức năng của NHTM - Khái niệm NHTM: Có nhiều khái niệm về NHTM, nhưng tựu chung lại có thể đưa ra khái niệm: NHTM là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Ngày nay, công nghệ thông tin, thương mại điện tử đã và đang phát triển mạnh cùng với sự ra đời của ngân hàng điện tử nên khái niệm về NHTM cũng có sự thay đổi theo hướng ngân hàng hoạt động đa năng, phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại. - Chức năng của NHTM hiện đại bao gồm: + Chức năng tín dụng, tín thác, bảo hiểm, đầu tư, bảo lãnh phát hành; + Chức năng môi giới, quản lý vốn/ tiền tệ, + Chức năng tiết kiệm, thanh toán.
Định nghĩa về rủi ro Có rất nhiều định nghĩa về rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại: - Theo định nghĩa truyền thống: Rủi ro là những sự kiện xảy ra có thể làm cho mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ. - Theo định nghĩa hiện đại, rủi ro được hiểu theo nghĩa rộng hơn: Rủi ro là khả năng những sự kiện chưa chắc chắn trong tương lai sẽ làm cho chủ thể không đạt được những mục tiêu chiến lược và mục tiêu hoạt động, cũng như chi phí cơ hội của việc làm mất những cơ hội thị trường. Tuy nhiên, qua các tài liệu nghiên cứu tác giả nhận thấy định nghĩa về rủi ro theo tài liệu do ssc cung cấp sử dụng trong Hội thảo “Quản trị rủi ro 4 đối với NHTM” tại Thành phố Hổ Chí Minh ngày 4-5/8/2006 có thể coi là định nghĩa tương đối hoàn chỉnh: Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là khả năng một hành động hoặc một sự kiện nào đó có thể đem đến những kết quả bất lợi ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nhập hay nguồn vốn của tổ chức hoặc tạo ra những trở ngại, ngăn cản tổ chức tiếp tục kinh doanh và tận dụng cơ hội tạo ra lợi nhuận. Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng Trong môi trường kinh doanh đầy thách thức, ngân hàng phải đương đầu với nhiều rủi ro hơn để tạo được mức lợi nhuận khả dĩ, theo phạm trù rủi ro người ta phân loại thành 4 nhóm rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt là: Sơ đồ 1-1.
Phân loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng Qua sơ đồ trên chúng ta thấy có thể phân loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng theo bốn nhóm rủi ro chính, gồm: (1) rủi ro tài chính, (2) rủi ro hoạt động, (3) rủi ro kinh doanh/kinh tế, (4) rủi ro sự cố. Môi quan hệ giữa các loại rủi ro Các loại rủi ro có mối quan hệ khăng khít, liên hoàn và tác động qua lại với nhau, một rủi ro này xảy ra sẽ kéo theo một loạt các rủi ro khác, ví dụ: Khi một chính sách mới của nhà nước ra đời như luật đất đai có một số điểm thay đổi gây bất lợi cho Ngân hàng sẽ làm ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng song cũng 5 ngân hàng không chấp hành đúng quy chế nghiệp vụ gây thất thoát tài sản gây ra rủi ro hoạt động đồng thời cũng gây ra rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng. Trong các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng thì loại rủi ro ảnh hưởng nhiều nhất và bao trùm lên tất cả các loại rủi ro đó là rủi ro hoạt động. Đây là rủi ro từ con người, từ hệ thống nội bộ nên nó gắn liền với từng phòng, ban hiện có tại ngân hàng.
Chính vì vậy trong QLRR nếu quản lý tốt rủi ro hoạt động sẽ làm giảm thiểu nguy cơ rủi ro xảy ra đối với các loại rủi ro khác. Rủi ro hoạt động bao trùm lên các loại rủi ro khác 1. Mức độ tác động của các loại rủi ro đôi với từng mảng kinh doanh trong hoạt động NHTM Đối với từng mảng hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì mức độ tác động của từng loại rủi ro là khác nhau, do đó để quản lý rủi ro có hiệu quả đối với từng mảng nghiệp vụ, các nhà nghiên cứu đã quy ước về rủi ro điển hình để đánh giá mức độ các loại rủi ro đối với từng mảng kinh doanh khác nhau, cụ thể: RR cao, RR trung bình, RR thấp, không có RR.VÍ dụ: Mức độ các loại RR đối với một số mảng kinh doanh như sau: - Nghiệp vụ khách hàng doanh nghiệp: + Rủi ro tín dụng: RR cao + Rủi ro thị trường: RR trung bình + Rủi ro hoạt động: RR thấp - Nghiệp vụ khách hàng tiêu dùng: 6 + Rủi ro tín dụng: RR thấp + Rủi ro thị trường: RR trung bình + Rủi ro hoạt động: RR cao - Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ và quản lý ngân quỹ: + Rủi ro tín dụng: RR thấp + Rủi ro thị trường: RR trung bình + Rủi ro hoạt động: RR cao - Nghiệp vụ quản lý tài sản: + Rủi ro tín dụng: RR trung bình + Rủi ro thị trường: RR cao + Rủi ro hoạt động: RR thấp 1. Rủi ro hoạt động 1.
Khái niệm • Đ ịn h n g h ĩa R R H Đ Rủi ro hoạt động được dịch ra từ tiếng Anh “Operational risk”, tuy nhiên do cách dịch khác nhau nên trong một số tài liệu tham khảo có tác giả lại dịch là rủi ro tác nghiệp, do vậy ta có thể hiểu rủi ro hoạt động và rủi ro tác nghiệp cùng là một loại rủi ro. Theo hiệp ước mới nhất về vốn của Basel II đã định nghĩa: Rủi ro hoạt động là nguy cơ tổn thất do các quá trình nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động, do con người và hệ thông hoặc do các sự kiện bên ngoài. Định nghĩa này bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ rủi ro chiến lược và uy tín. Như vậy, RRHĐ là rủi ro do bốn nhóm yếu tố, đó là: Quá trình, con người, hệ thống, các sự kiện bên ngoài.
Bốn nhóm yếu tố được hiểu cụ thể như sau: - Quá trình', là rủi ro do quá trình kinh doanh hoặc do quá trình giao dịch không thực hiện được; 7 - Con người: là rủi ro do tổ chức quản lý con người không hiệu quả hoặc do nhân viên không được cư xử đúng mực; - Hệ thông: là rủi ro do hệ thống CNTT/hệ thống truyền thông không đầy đủ hoặc không hoạt động, hoặc do không có hoặc có không đủ dữ liệu; - Các sự kiện bên ngoài: là rủi ro do các sự kiện hoặc hành động bên ngoài có những tác động xấu lên hoạt động kinh doanh nằm ngoài khả năng kiểm soát lập tức của Ngân hàng. • C á c v ấ n đ ề liê n q u a n đ ế n r ủ i r o h o ạ t đ ộ n g Rủi ro hoạt động là sự kết hợp của sai sót do con người, sự thiếu khả năng của hệ thống, các thủ tục và quyền kiểm soát không đầy đủ. Đó là rủi ro của sự thua lỗ do khả năng của hệ thống thông tin không đầy đủ; kỹ thuật yếu kém, sự vi phạm nội quy, sự lừa lọc, thảm họa bất ngờ, hoặc những vấn đề hoạt động khác có thể đem lại sự thua lỗ không mong đợi hoặc những vấn đề về danh tiếng. Rủi ro hoạt động tồn tại trong các dịch vụ và hoạt động kinh doanh của NH.
Do vậy, trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, rất nhiều vấn đề liên quan đến RRHĐ, các vấn đề liên quan đến rủi ro hoạt động bao gồm; - Chiến lược kinh doanh; - Các chính sách, các quy trình tác nghiệp; - Công tác Tổ chức; - Các quá trình kinh doanh; - Các hoạt động nghiệp vụ, hoạt động hỗ trợ; - Nguồn nhân lực; - Cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin; - Các biện pháp kiểm soát; - Công tác kiểm toán. • N h ữ n g k h á c b iệ t c ủ a R R H Đ s o v ớ i c á c lo ạ i R R k h á c Rủi ro hoạt động có những điểm khác so với một số loại rủi ro khác, thể hiện qua bảng so sánh sau: 8 Bảng 1-1. Bảng so sánh rủi ro hoạt động với m ột s ố loại rủi ro khác R ủ i r o t ín d ụ n g , r ủ i r o t h ị t r ư ờ n g R ủi ro h oạt động - Đã phát triển từ 10 -30 năm; - Là một quy tắc mới xuất hiện; - Định lượng cao; - Chủ yếu định lượng, bắt đầu định tính; - Rủi ro liên quan đến giao dịch; - Rủi ro liên quan đến quy trình và con người; - Dữ liệu phong phú; - Thiếu nguồn dữ liệu; - Trên phạm vi rộng; - Phạm vi hạn chế; - Biến số biết trước; - Nhiều biến số chưa biết trước; - Một vài chức năng liên quan; - Tất cả các chức năng đều liên quan; - Một vài loại biến cố. - Sự đa dạng của các biến cố.
Qua bảng trên cho thấy, rủi ro hoạt động là một quy tắc mới xuất hiện nhưng nó liên quan đến quy trình và con người. Do vậy nó liên quan đến tất cả các chức năng hoạt động của ngân hàng, các biến cố đều hết sức đa dạng, phong phú, như vậy sẽ có nhiều cơ hội để bổ sung giá trị vào quá trình quản lý rủi ro và hỗ trợ Ban điều hành. Các dạng rủi ro hoạt động Các dạng Rủi ro hoạt động bao gồm: - Gian lận nội bộ: là các hoạt động không cho phép, trộm cắp, gian lận từ bên trong nội bộ ngân hàng. - Gian lận bên ngoài: là các vấn đề về an ninh hệ thống, trộm cắp, gian lận do các yếu tố, đối tượng bên ngoài.
- Thực tiễn làm việc và an toàn nơi làm việc: Mối quan hệ nhân viên đối với lãnh đạo, sự phân biệt đối xử của lãnh đạo đối với nhân viên, môi trường làm việc. - Tổn thất tài sản vật chất: Thảm họa và các sự kiện khác.