CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp 1. Vốn lưu động trong doanh nghiệp 1. Khái niệm Khái niệm về vốn lưu động theo quan điểm của Ross và các cộng sự (2009) như sau: “Vốn lưu động nói tới các tài sản trong ngắn hạn của doanh nghiệp như: hàng tồn kho, các khoản nợ ngắn hạn như tiền phải trả nhà cung cấp”.
Khái niệm nêu trên tuy không miêu tả rõ công thức xác định vốn lưu động (working capital) nhưng đã hàm ý rằng vốn lưu động bao gồm các tài sản ngắn hạn và nguồn tài trợ ngắn hạn cho các tài sản đó. Berk và cộng sự (2012) cũng có quan điểm tương tự khi đưa ra khái niệm về vốn lưu động và đưa ra thêm khái niệm về vốn lưu động thuần/vốn lưu động ròng (net working capital). Theo đó, hoạt động quản lý vốn lưu động sẽ liên quan tới các khoản mục tài sản ngắn hạn như tiền mặt, hàng tồn kho, khoản phải thu cũng như các khoản mục nợ ngắn hạn như khoản phải trả nhà cung cấp. Theo hướng tiếp cận dựa vào bảng cân đối kế toán, chuyên gia quản lý tài chính và phân tích kinh tế người Mỹ, James Sagner (2010) đã đưa ra định nghĩa: Vốn lưu động là sự chênh lệch giữa hai khoản mục trên bảng cân đối kế toán là tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn.
Theo một số các công trình nghiên cứu ở Việt Nam về vốn lưu động như nghiên cứu của Lưu Thị Hương (2008) cho rằng vốn lưu động là số vốn bằng tiền ứng trước cho các tài sản lưu động hiện có và đầu tư ngắn hạn của doanh nghiệp để đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được diễn ra bình thường, thường xuyên và liên tục. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thu Thủy (2011), vốn lưu động (working 6 capital) hay vốn lưu động gộp (gross working capital) là toàn bộ tài sản ngắn hạn được sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, vốn lưu động là những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Theo Bùi Văn Vần và Vũ Văn Ninh (2015), “VLĐ là toàn bộ số tiền ứng trước mà DN bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSLĐ cần thiết cho hoạt động SXKD của DN”, Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, tác giả đồng quan điểm của vốn lưu động được thể hiện như sau, “VLĐ là toàn bộ các khoản mục tài sản ngắn hạn như tiền mặt, hàng tồn kho, khoản phải thu cũng như các khoản mục nợ ngắn hạn như khoản phải trả nhà cung cấp”.
Đặc điểm Khác với vốn cố định, VLĐ trong DN có những đặc điểm riêng, phù hợp với các đặc điểm của TSLĐ đó là: - VLĐ có thời gian luân chuyển nhanh, chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh do thời gian sử dụng TSLĐ ngắn. - Hình thái biểu hiện của VLĐ luôn thay đổi qua các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh: Từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu trở thành vật tư, hàng hóa dự trữ sản xuất, tiếp đến trở thành sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm và cuối cùng lại trở về hình thái vốn bằng tiền. - Giá trị của VLĐ được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị của hàng hóa dịch vụ sản xuất ra và được bù đắp lại khi DN thu được tiền bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Phân loại - Phân loại theo hình thái biểu hiện của VLĐ Theo cách này VLĐ có thể chia thành, vốn bằng tiền, các khoản phải thu,vốn hàng tồn kho Vốn bằng tiền: gồm tiền gửi ngân hàng, tiền mặt tại quỹ, tiền đang chuyển.
Ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển thì các chứng khoán ngắn hạn cũng được coi là những tài sản tương đương tiền xếp vào khoản mục này. Vốn bằng tiền được DN sử dụng để trả lương cho công nhân, mua sắm nguyên vật liệu, mua tài sản 7 cố định, trả tiền thuế, trả nợ đến hạn thanh toán…Do vậy các nhà quản trị luôn duy trì lượng vốn bằng tiền hợp lý để đảm bảo cho quá trình thanh toán kịp thời, tránh rơi vào tình trạng nợ nần, mất khả năng thanh toán. Các khoản phải thu: là các khoản phải thu hồi nợ từ khách hàng phát sinh trong quá trình các DN cung cấp hàng hóa, dịch vụ và hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, phải thu của khách hàng bao giờ cũng là khoản phải thu chủ yếu của DN, lĩnh vực càng nhiều DN cung cấp thì công nợ phải thu của khách hàng càng lớn, do tính cạnh tranh trong quá trình cung ứng sản phẩm, hàng hoá làm cho khách hàng có quyền lựa chọn thời điểm thanh toán. Vốn về hàng tồn kho: là các khoản vốn dự trữ nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, vốn nhiên liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, chi phí trả trước, thành phẩm… Đây là loại vốn để đảm bảo quá trình sản xuất của các DN được diễn ra thường xuyên liên tục.
Mỗi loại VLĐ trên có mức độ thanh khoản khác nhau. Cách phân loại này giúp cho các DN xem xét, đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của DN. Mặt khác thông qua cách phân loại này DN có thể thấy được mức độ hợp lý trong bố trí cơ cấu VLĐ, để DN đảm bảo sản xuất được liên tục, quản trị được từng loại vốn gắn với từng giai đoạn quá trình kinh doanh, đáp ứng yêu cầu thanh toán của DN. - Phân loại theo vai trò VLĐ trong quá trình tham gia tái sản xuất VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất: Vốn nguyên nhiên vật liệu, vốn phụ tùng thay thế, vốn công cụ dụng cụ nhỏ, vốn vật tư đóng gói.
VLĐ trong khâu sản xuất: Vốn sản phẩm dở dang, vốn bán thành phẩm, vốn chi phí trả trước ngắn hạn. VLĐ trong khâu lưu thông: Vốn thành phẩm, vốn trong thanh toán, vốn đầu tư ngắn hạn, vốn cho vay ngắn hạn, vốn bằng tiền… Phương pháp phân loại này cho phép biết được kết cấu nguồn VLĐ theo vai trò. Từ đó, giúp ta đánh giá tình hình phân bổ VLĐ trong các khâu của quá trình luân chuyển vốn, thấy được vai trò của từng thành phần vốn đối với quá trình kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp tổ chức quản lý thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu 8 VLĐ hợp lý, tăng được tốc độ luân chuyển VLĐ.
Quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp 1. Khái niệm Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp. Theo Nguyễn Thị Thu Thủy (2011), “Quản lý vốn lưu động là việc xây dựng các chính sách vốn lưu động và thực hiện các chính sách ấy trong hoạt động kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp”. Theo Tô Thị Thanh Trúc và Nguyễn Đình Thiên (2015), “Quản lý vốn lưu động là những hoạt động liên quan đến việc hoạch định và kiểm soát các khoản mục tài sản lưu động và nợ ngắn hạn của doanh nghiệp”.
Theo Van Horne và Wachowicz (2005), “Quản lý VLĐ là việc thực hiện các quyết định liên quan đến việc sử dụng các tài sản ngắn hạn của DN như: tiền mặt, chứng khoán, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác”. Trong phạm vi nghiên cứu luận văn, quan điểm của tác giả đồng quan điểm với Van Horne và Wachowicz (2005). Vai trò của quản lý vốn lưu động trong doanh nghiệp Các nhà nghiên cứu đều thừa nhận hoạt động quản lý vốn lưu động đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất và thương mại, trong đó có các doanh nghiệp bán lẻ. Các vai trò của hoạt động quản lý vốn lưu động cụ thể như sau: Thứ nhất, quản lý vốn lưu động nhằm đảm bảo lượng vốn nhàn rỗi được đầu tư một cách có hiệu quả.
Hàng tồn kho, khoản phải thu, khoản phải trả và tiền mặt cần phải duy trì ở mức cân đối với đặc thù của từng doanh nghiệp, từng lĩnh vực khác nhau. Việc chú trọng hoạt động quản lý vốn lưu động sẽ giúp doanh nghiệp tối ưu hóa nguồn vốn của mình, không lãng phí dư thừa, nhưng cũng không thiếu đến mức phải gián đoạn hoạt động. Việc phân bổ vốn hợp lý còn có thể giúp doanh nghiệp thu được những khoản lợi nhuận nhất định từ việc tận dụng chi phí cơ hội. Thứ hai, quản lý vốn lưu động đảm bảo khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn của doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp phải duy 9 trì mối quan hệ với nhiều đối tượng khác nhau như nhà cung cấp, khách hàng, cơ quan nhà nước, và đôi khi xuất hiện các khoản phải trả đối với các bên này, chẳng hạn thanh toán tiền nguyên vật liệu cho nhà cung cấp hay các khoản bồi thường đối với khách hàng. Nếu hoạt động quản lý vốn lưu động không được tách ra để thực hiện một cách chuyên nghiệp thì doanh nghiệp sẽ rất khó đảm bảo việc thanh toán các khoản phải trả này một cách đầy đủ và đúng thời hạn. Hậu quả là mối quan hệ với các nhà cung cấp bị ảnh hưởng và doanh nghiệp có nguy cơ gặp phải các trục trặc pháp lý. Do đó, ở mỗi doanh nghiệp, phải quản lý và dự báo các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn, không để doanh nghiệp phải gián đoạn hoạt động.
Thứ ba, quản lý vốn lưu động duy trì sự cân bằng hiệu quả giữa các tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Sự cân bằng giữa các nguồn tài trợ với các khoản mục tài sản của doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự tồn tại vững chắc của một doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp thường xuyên phải dùng các nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho các tài sản dài hạn, chẳng hạn việc dùng tiền thanh toán nhà cung cấp nguyên vật liệu để mua tài sản cố định, sớm muộn doanh nghiệp cũng sẽ đối mặt với nguy cơ phá sản. Ngược lại, nếu doanh nghiệp dùng nguồn tài trợ dài hạn để thanh toán các nghĩa vụ ngắn hạn, chẳng hạn dùng lợi nhuận giữ lại để thanh toán nguyên vật liệu, điều đó khiến doanh nghiệp không tận dụng được chi phí cơ hội từ việc đầu tư tài chính hay gửi lãi suất, hoặc mua sắm tài sản cố định để mở rộng sản xuất.
Bởi vậy, nhà quản lý vốn lưu động phải cân bằng được nguồn tài trợ ngắn hạn và các tài sản ngắn hạn trong hoạt động kinh doanh hàng ngày, và để đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động một cách vững chắc nhất.