mở đầu cho quá trình cải cách hành chính thuế ở nhiều nước, chuyển dần từ phương thức thông báo thuế sang phương thức NNT tự khai, tự tính, tự nộp thuế. Công trình nghiên cứu trong nƣớc Việt Nam đang trải qua thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế, chuyển đổi QLT nói chung, trong đó có thuế TNCN. Đây là loại thuế trực thu và có vai trò, vị trí rất quan trọng trong hệ thống thuế nhưng do mức độ phức tạp, rất khó kiểm soát và quản lý nguồn thu thuế. Vì vậy, chủ đề về QLT nói chung và thuế TNCN nói riêng đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của nhà nghiên cứu trong nước, cụ thể như sau: Vũ Thị Bích Quỳnh (2019), với tên đề tài ―Quản lý thuế Thu nhập cá nhân đối với người Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế‖.
Luận án đề cập đến vấn đề tuân thủ thuế TNCN tại TP. HCM trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Về mặt lý luận, luận án đã bổ sung và làm sáng tỏ thêm các vấn đề lý luận về quản lý thuế TNCN, khẳng định các thang đo sử dụng trong luận án này là có cơ sở khoa học (đã có kiểm định thống kê), các nhà nghiên cứu có thể sử dụng làm cơ sở kế thừa cho những nghiên cứu về quản lý thuế TNCN ở Việt Nam. Về mặt thực tiễn, luận án đề xuất việc tiếp tục nghiên cứu áp dụng mô hình quản lý thuế TNCN theo mô hình tuân thủ thực tiễn trong QLT tại Việt Nam, đồng thời đề ra một số giải pháp và kiến nghị góp phần đổi mới quản lý thuế TNCN ở TP.
HCM nói riêng và Việt Nam nói chung trong thời gian tới. Tuy nhiên, luận án chưa làm rõ các nội dung như: các thu nhập của cá nhân trong bối cảnh hội nhập đã, đang và sẽ thay đổi như thế nào (khả năng dịch chuyển thể nhân, cung cấp lao động qua biên giới khi nước ta thực hiện các cam kết AFTA.); mức độ hội nhập TP. HCM như thế nào khi nguồn thu thuế cao nhất nước; quản lý Nhà nước về thuế đối với thu thuế đã, đang và sẽ thay đổi như thế nào (công cụ mới sẽ áp dụng trong quản lý thuế như thế nào, việc ứng dụng Blockchain, Big data tác động sâu rộng như thế nào đến QLT); NNT ở TP. HCM khác với các tỉnh như thế nào; khung pháp lý và hệ thống chính sách đã, đang và sẽ chuyển đổi như thế nào.
Do đó, các nghiên cứu tiếp theo cần tiếp tục phát triển, làm rõ các nội dung này. Đây là những nội dung tuy còn bỏ ngỏ nhưng đã tạo nguồn thông tin tham khảo có giá trị đối với đề tài luận án của NCS. Huỳnh Văn Diện (2016), với tên đề tài “Pháp luật thuế thu nhập cá nhân từ thực tiễn Thành phố Cần Thơ‖. Luận án đã nêu khái niệm thuế TNCN, các đặc 12 điểm thuế TNCN và vai trò của thuế và thuế TNCN, đồng thời phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thực thi pháp luật thuế TNCN thực tiễn và hiệu quả quản lý thuế TNCN.
Tác giả tập trung nghiên cứu toàn diện thực trạng pháp luật thuế TNCN của Việt Nam và thực tiễn thi hành tại địa phương cụ thể là Thành phố Cần Thơ cùng với những đánh giá hàng loạt ưu điểm và hạn chế của pháp luật thuế TNCN hiện hành. Trên cơ sở đó, tác giả kiến nghị hoàn thiện pháp luật thuế TNCN ở địa phương nhất định trong thời gian sau này. NCS vận dụng tập trung nghiên cứu thực tiễn thi hành tại TP. Nguyễn Hoàng (2013), với tên đề tài “Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam”.
Luận án đã phân tích, tổng hợp được một số vấn đề có tính lý luận cơ bản về thuế TNCN và quản lý thuế TNCN. Trong đó, đã đi sâu phân tích nội dung quản lý thuế TNCN và những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý thuế TNCN. Đánh giá thực trạng về quản lý Nhà nước đối với thuế TNCN ở Việt Nam. Tác giả luận án đã chỉ ra được một số điểm hạn chế và làm rõ những nguyên nhân dẫn đến những điểm còn hạn chế trong quản lý thuế TNCN.
Trong đó, chủ yếu là những hạn chế trong Luật thuế TNCN và Luật Quản lý thuế; những hạn chế về tổ chức bộ máy và năng lực đội ngũ cán bộ thuế; những hạn chế về quy trình quản lý thuế TNCN; những hạn chế trong công tác thanh tra, kiểm tra việc thực thi Luật Thuế TNCN. Trên cơ sở lập luận, phân tích về cải cách QLT nói chung, thuế TNCN nói riêng, tác giả luận án đã đề xuất 5 nhóm giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế TNCN ở nước ta: (1) nhóm giải pháp hoàn thiện khung khổ pháp lý về quản lý thuế TNCN; (2) nhóm giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ thuế; (3) nhóm giải pháp hoàn thiện các quy trình quản lý thuế TNCN mà trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính thuế; (4) nhóm giải pháp hoàn thiện mạng lưới và đẩy mạnh hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quản lý thuế TNCN, cả đối với người thu thuế và NNT; (5) nhóm giải pháp về hệ thống chính sách về quản lý kinh tế xã hội phải được cải cách đồng bộ tạo cơ sở cho việc quản lý thu thuế TNCN, cơ chế quản lý thu theo phương thức quản lý dòng tiền… 13 Luận án của tác giả Nguyễn Hoàng nghiên cứu chung về hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với thuế TNCN ở Việt Nam nhưng chưa đề cập và phân tích cụ thể các vấn đề, như: quy trình quản lý thuế TNCN; các khâu trong quy trình quản lý và các ĐTNT của các loại thu nhập chịu thuế khác. Đây cũng chính là những khoảng trống nghiên cứu cần tiếp tục đi sâu phân tích trong đề tài luận án của NCS. Vũ Văn Cƣơng (2012), với đề tài―Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn‖.
Luận án đã nêu nội dung cụ thể của pháp luật quản lý thuế hiện hành được kết luận bao gồm: pháp luật về thủ tục hành chính thuế và pháp luật về giám sát và bảo đảm sự tuân thủ pháp luật thuế. Tác giả đã tập trung phân tích sâu và trên cơ sở đó tác giả cung cấp cơ sở lý luận cho những nghiên cứu tiếp theo về nội dung pháp luật quản lý thuế TNCN và hiệu quả quản lý thuế TNCN. Lý Phƣơng Duyên (2010), với đề tài ―Quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế‖. Luận án đã hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận cơ bản về thuế TNCN và quản lý thuế TNCN.
Trong đó, đã đi sâu phân tích nội dung quản lý thuế TNCN, từ đăng ký kê khai cấp MST, kê khai tính thuế và nộp thuế, giải quyết nợ đọng thuế, công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về thuế (PLVT) TNCN, công tác tuyên truyền, dịch vụ hỗ trợ NNT. Luận án cũng chỉ rõ những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế TNCN và những yêu cầu đặt ra đối với quản lý thuế TNCN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Sau khi nêu 6 bài học kinh nghiệm về quản lý thuế TNCN ở một số nước trên thế giới, tác giả phân tích đánh giá thực trạng về quản lý thuế TNCN ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra đối với công tác quản lý thuế TNCN Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất hệ thống các giải pháp cải cách quản lý thuế TNCN ở Việt Nam.
Trong đó, có một số giải pháp được đề xuất thể hiện rõ quan điểm và những ý tưởng mới của tác giả, như: phân chia nhóm ĐTNT TNCN theo mức độ tuân thủ pháp luật để áp dụng phương pháp quản lý tuân thủ; đẩy mạnh xã hội hóa công tác quản lý thuế TNCN bằng việc áp dụng cơ chế “tự kê khai, nộp thuế” cùng với phát triển mạng lưới các doanh nghiệp đại lý thuế, dịch vụ tư vấn thuế; xây dựng quy trình quản lý thuế TNCN cho từng nhóm ĐTNT 14 có các nguồn thu nhập từ tiền lương, tiền công (TL – TC); thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ các hoạt động hành nghề độc lập; thu nhập của những ĐTNT không cư trú. Tuy nhiên, tác giả chỉ nghiên cứu chung về quản lý thuế TNCN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở tầm vĩ mô, chưa đi sâu vào nội dung quản lý thuế TNCN cho từng ĐTNT, nhất là ĐTNT có những nguồn thu nhập khác nhau như TL – TC, kinh doanh, hành nghề độc lập và thu nhập của những người không cư trú tại Việt Nam. Đây cũng là những khoảng trống mà NCS sẽ đi sâu nghiên cứu và làm rõ thêm. Phan Thị Hằng Nga (2017), với đề tài―Giải pháp nâng cao hiệu quả trong quản lý thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam”.
Đề tài đã hệ thống hóa được một số vấn đề cơ bản về quản lý thuế TNCN, như: khái niệm về quản lý thuế TNCN, các nội dung cơ bản quản lý thuế TNCN, bao gồm đăng ký cấp MST, kê khai tính thuế, nộp thuế, thanh tra kiểm tra thuế, quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế, tuyên truyền hỗ trợ NNT, các nguyên tắc và yêu cầu đối với quản lý thuế TNCN… Đề tài cũng đã làm rõ được nội hàm của “Hiệu quả quản lý thuế thu nhập cá nhân” và nguyên tắc tương quan giữa nguồn lực bỏ ra và hiệu quả đạt được trong quản lý thuế TNCN. Trong đó, đã chỉ ra được các tiêu chí và phương pháp đánh giá hiệu quả quản lý thuế TNCN.