CHƯƠNG 1 NHỮNG VÁN ĐÈ c o BẢN VÈ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. HOẠT • ĐỘNG • TÍN DỤNG • CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Ngân hàng chính sách xã hội 1. Khải niệm Ngân hàng thương mại (NHTM) ra đời, tồn tại và phát triên với mục đích huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để cho vay trên nguyên tắc bù đắp chi phí hoạt động và có lãi.
Bởi vì là một hoạt động kiếm lời, nên NHTM có những quy định để bảo vệ lợi ích kinh tê cho mình, dân đên không phải ai cần vốn cũng đều được NHTM cho vay, đặc biệt là những người nghèo, những người không đủ điều kiện tín dụng đảm bảo. Vì thế người nghèo luôn phải sống trong vòng luẩn quẩn “thu nhập thấp, tiết kiệm thâp, đâu tư thâp, thu nhập thấp hơn”. Theo thống kê của Liên hiệp quốc (LHQ), một nữa dân số thế giới sống với mức thu nhập dưới 2ƯSD/ngày, trong đó có khoảng 1,2 tỉ người đang phải sống trong cảnh nghèo đói. Điều đó cho thấy nghèo đói luôn là vân nạn lớn của toàn cầu, và mục tiêu xoá đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội luôn là mục tiêu hàng đầu mà các quốc gia muốn thực hiện.
Từ những nhu cầu khách quan đó, vào những năm 70, các nước trên thê giới đã bắt đầu nảy ra một ý tưởng về một mô hình tín dụng cung cấp vốn cho người nghèo.Tuỳ vào lịch sử hình thành và mục đích hoạt động, mà ở môi quốc gia có những cách gọi khác nhau cho loại hình tín dụng này. Nhưng ta có thể hiểu theo nghĩa chung và rộng nhất, đó là các ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH). Ngân hàng chính sách xã hội là một tổ chức tín dụng với hoạt động chủ 5 yếu là phục vụ người nghèo và các chính sách kinh tế, chính trị và xã hội đặc biệt của mỗi quốc gia.Mục tiêu chính của các NHCSXH không phải là lợi nhuận trong kinh doanh mà là hỗ trợ tối đa về vốn cho các đối tượng trên.Chính vì thế, NHCSXH không phải là một NHTM và không đáp ứng các tiêu chí về kinh doanh thương mại. Dựa vào tính chất của đối tượng vay, hoạt động cho vay của NHCSXH có thê phân thành 3 loại: - Cho vay xoá đói giảm nghèo.
- Cho vay hỗ trợ các chính sách xã hội, giáo dục, y tế. - Cho vay các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ hoặc không đủ điểu kiện vay thông thường hoặc với các điều kiện ưu đãi. Còn dựa vào nguồn gốc thành lập, NHCSXH được chia làm 2 loại: sở hữu tư nhân do tư nhân thành lập, kiểm sát và hoạt động; sở hữu nhà nước do nhà nước thành lập, kiếm sát và hoạt động. Từ chỗ nguồn gốc thành lập, mà các hoạt động cho vay của các NHCSXH cũng bị ảnh hưởng nhiều.
Vai trò và chúc năng Vai trò và chức năng của NHCSXH là rất quan trọng trong quá trình hoạt động và phát triển của NHCSXH, có vai trò hổ chợ giúp đỡ các hộ nghèo, các đối tượng chính sách, là nguồn cung cấp vốn cần thiết cho người dân làm kinh tế xoá đói giảm nghèo, từ đó tạo điều kiệm trong việc đẩy mạnh và phát triển kinh tế xã hội của đất nước, chức năng và vai trò của NHCSXH là không thể thiếu trong quá trình hoạt động và triển kinh tế xã hội của nước ta. a) Vai trò của NHCSXH: Chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo và đối tượng chính sách khác của Chính phủ có vai trò rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta hiện nay. Từ khi NHCSXH được thành lập, việc thực thi những chính sách tín dụng ưu đãi đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp 6 phần quan trọng làm giảm tỷ lệ hộ nghèo, tạo thêm nhiều việc làm mới, nâng cao tỷ lệ nông dân được sử dụng nước sạch, môi trường nông thôn được cải thiện, tạo điều kiện cho sinh viên nghèo yên tâm học tập. Trong Quyết định thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội, Thủ tướng Chính phủ xác định: Đây là Ngân hàng hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách khác.
Có vai trò quan trọng nhưng cũng đầy khó khăn, cán bộ nhân viên Ngân hàng Chính sách xã hội đã và đang phát huy tiền đề vững chắc đã có, đồng thời thực hiện tốt các chức năng mở rộng để xây dựng một kênh tín dụng mới tiêp tục phục vụ có hiệu quả các đối tượng chính sách trong cả nước. Sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động đế cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi đế sản xuất kinh doanh, tạo việc làm cải thiện đời sống; góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội chính là nhiệm vụ xuyên suốt cuả Ngân hàng chính sách xã hội b) Chức năng của NHCSXH: - Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn phục vụ cho sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội. - Tổ chức huy động vốn trong và ngoài nước có trả lãi của mọi tố chức và tầng lớp dân cư bao gồm tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn; Tố chức huy động tiết kiệm trong cộng đồng người nghèo. - Phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác; vay các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước; Vay tiết kiệm Bưu điện, Bảo hiểm xã hội Việt Nam; Vay Ngân hàng Nhà nước.
- Được nhận các nguồn vốn đóng góp tự nguyện không có lãi hoặc 7 không hoàn trả gốc của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội, các tổ chức phi chính phủ trong nước và nước ngoài. - Mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho tất cả các khách hàng trong và ngoài nước. - Ngân hàng Chính sách xã hội có hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống liên ngân hàng trong nước. - Ngân hàng Chính sách xã hội được thực hiện các dịch vụ ngân hàng về thanh toán và ngân quỹ: Cung ứng các phương tiện thanh toán; Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước; Thực hiện các dịch vụ thu hộ, chi hộ bằng tiền mặt và không bằng tiền mặt; Các dịch vụ khác theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
- Nhận làm dịch vụ uỷ thác cho vay từ các tổ chức quốc tế, quốc gia, cá nhân trong nước, ngoài nước theo hợp đồng uỷ thác. Hoạt động tín dụng trong Ngân hàng chính sách xã hội 1. Chính sách tín dụng Chính sách tín dụng là một bộ phần hợp thành của chính sách kinh tế, phục vụ chính sách kinh tế và chịu sự chi phổi của chính sách kinh tế. Đảng và nhà nước đã có nhiều nghị quyết đề cập đến vấn đề củng cố và tăng cường công tác tín dụng, vấn đề đặt ra là phải có chính sách tín dụng phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước.
Chính sách tín dụng bao gồm những quan điểm định hướng về khai thác động viên và phân phối các nguồn vốn tạm thời chưa dùng đến của các đơn vị kinh tế xã hội, của các ngành và trong dân cư, nhằm thực hiện đường lối xây dựng và phát triển kinh tế xã hội của Đảng. Nói cách khác, chính sách tín dụng bao gồm việc đưa ra các quan điểm có cơ sở khoa học vê việc tô chức các quan hệ tín dụng và đề ra các nhiệm vụ trong lĩnh vực cho vay nền 8 kinh tế quổc dân và dân cư, việc kết hợp các phương pháp tài chính và tín dụng trong việc phân phối và phân phối lại tiền vốn, các liên hệ lẫn nhau của việc cho vay với việc tổ chức chu chuyển tiền tệ, các nguyên tắc chủ yếu của cho vay, tương quan của các phương pháp kinh tế và tổ chức trong hoạt động tín dụng. Đối với một Ngân hàng thương mại, chính sách tín dụng là một hệ thống các biện pháp liên quan đến việc khuếch trương tín dụng hoặc hạn chế tín dụng để đạt mục tiêu đã được hoạch định của ngân hàng thương mại đó và hạn chế rủi ro, bảo đảm an toàn trong kinh doanh tín dụng của ngân hàng. Đối với Ngân hàng chính sách xã hội là ngân hàng của Nhà nước, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, chính sách tín dụng là đế phục vụ cho các đối tượng chính sách nhằm thực hiện các chính sách kinh tế xã hội nhất định của quốc gia.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng chính sách xã hội - Tín dụng Ngân hàng Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Tính chất của tín dụng: Tín dụng trước hết chỉ là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền (hiện kim) hoặc tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, chứ không làm thay đổi quyền sở hữu chúng; Tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải được “hoàn trả”; Giá trị của tín dụng không những được bảo tồn mà còn được nâng cao nhờ lợi tức tín dụng. Tín dụng là mối quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn đó sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong tương lai. Như vậy, một quan hệ tín dụng phải thỏa mãn các đặc trưng: Thứ nhất, là quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời; Thứ hai, tính hoàn trả; Thứ ba, quan hệ tín dụng dựa trên sự tin tưởng giữa người đi vay 9 và người cho vay.
Từ các khái niệm trên cho thấy bản chất tín dụng là một giao dịch về tiền hoặc giấy tờ có giá trị như tiền dựa trên cơ sở có khả năng hoàn trả.Cơ sở để quyết định một khoản tín dụng là lòng tin của chủ nợ về khả năng thanh toán của người nợ, là sự tín nhiệm, tin tưởng lẫn nhau.Trong đó, hành động hoàn trả là đặc trưng bản chất của tín dụng, là dấu hiệu tiêu biểu để phân biệt tín dụng với các dạng hỗ trợ tài chính không phải hoàn trả gốc và lãi. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các xí nghiệp, tổ chức kinh tế, các to chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay đối với các đổi tượng trên.