Tổng quan nghiên cứu

Ban Quản lý Rừng phòng hộ Tân Phú thuộc địa bàn hai xã Gia Canh và Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, giữ vai trò lá chắn sinh thái xung yếu đầu nguồn cho công trình thủy điện Trị An. Với tổng diện tích tự nhiên quản lý đạt 13.862,20 ha, trong đó diện tích đất có rừng chiếm tới 13.654,61 ha và tỷ lệ che phủ duy trì ở mức 98%, đơn vị đóng vai trò then chốt trong việc điều tiết nguồn nước, phòng hộ môi trường và bảo tồn tính đa dạng sinh học cho toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tuy nhiên, trước sức ép gia tăng dân số với 46.320 nhân khẩu sinh sống tại vùng đệm cùng tình trạng di cư tự do và tập quán canh tác nương rẫy, tài nguyên rừng tại đây đang đứng trước nhiều nguy cơ suy thoái về chất lượng lâm phần.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng giai đoạn 2010 - 2015, phân tích các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động trực tiếp đến tài nguyên rừng, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp kỹ thuật lâm sinh và quản trị mang tính bền vững đến năm 2020. Nghiên cứu tập trung giải quyết mâu thuẫn giữa bảo tồn 11.702,1 ha rừng tự nhiên và nhu cầu mưu sinh của các cộng đồng dân tộc địa phương. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc lượng hóa các chỉ số suy giảm lâm sản, xác lập cơ chế phối hợp liên ngành và nâng cao hiệu quả chi trả dịch vụ môi trường rừng, tạo tiền đề nâng thu nhập người nhận khoán lên 20% đến 30% và giảm thiểu 50% số vụ vi phạm lâm luật trong chu kỳ quản trị tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý rừng bền vững dựa trên sự cân bằng của ba trụ cột: bền vững sinh thái môi trường, bền vững kinh tế và bền vững xã hội. Bên cạnh đó, đề tài tích hợp lý thuyết đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên và lâm nghiệp xã hội, nhấn mạnh vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương trong việc tham gia bảo vệ và chia sẻ lợi ích từ rừng. Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: quy chế quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn theo Quyết định số 17/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, cơ chế giao khoán đất lâm nghiệp theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP và chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP. Khung phân tích này bảo đảm 100% diện tích rừng được phân loại đúng mục tiêu quy hoạch ba loại rừng quốc gia, hướng tới việc chuyển đổi từ phương thức quản lý hành chính đơn thuần sang quản trị tài nguyên đa mục đích.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia kết hợp phỏng vấn sâu với cỡ mẫu điều tra thực địa gồm 50 hộ gia đình tại hai xã Gia Canh, Phú Ngọc và 30 cán bộ chuyên môn trực tiếp làm việc tại các phòng ban, phân trường của Ban quản lý. Phương pháp chọn mẫu phân tầng điển hình đại diện được áp dụng dựa trên các tiêu chí: thành phần dân tộc thiểu số, mức sống kinh tế, vị trí cư trú giáp ranh lâm phận và thời gian nhận khoán đất lâm nghiệp.

Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm thu thập các dữ liệu định tính và định lượng chân thực về sinh kế, mức độ phụ thuộc vào rừng của 4 nhóm dân tộc chính. Dữ liệu sơ cấp được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel và phân tích ma trận SWOT để xác định rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cùng thách thức nội tại. Đồng thời, nghiên cứu kế thừa cơ sở dữ liệu kiểm kê rừng năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai kết hợp giải đoán ảnh vệ tinh SPOT5 và Google Earth nhằm kiểm chứng tính chính xác của hiện trạng rừng trên thực địa trong suốt timeline nghiên cứu 2010 - 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu diện tích đất lâm nghiệp duy trì độ che phủ cao nhưng tiềm ẩn nguy cơ bất ổn về chất lượng lâm phần. Trong tổng số 13.862,20 ha đất quản lý, diện tích đất có rừng chiếm 13.654,61 ha, tương đương 98,1%. Rừng tự nhiên chiếm ưu thế với 11.702,1 ha (tỷ lệ 84,4%), song phần lớn lại là trạng thái rừng gỗ non phục hồi IIa và IIb với 7.391,2 ha (chiếm 53,3%), trong khi rừng trung bình IIIA2 chỉ có 2.058,2 ha (chiếm 14,8%). Đáng chú ý, diện tích rừng trồng cây đặc sản nông - lâm kết hợp do người dân khai hoang, xâm canh từ trước lên tới 1.297,6 ha (chiếm 9,4% tổng diện tích), gây áp lực quản lý vô cùng phức tạp.

Thứ hai, đặc điểm kinh tế - xã hội vùng đệm tạo lực cản lớn đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Khu vực có 23.370 lao động trong tổng số 46.320 nhân khẩu, nhưng tỷ lệ dân số có trình độ học vấn dưới trung học cơ sở lên tới 53,37%, trong đó tỷ lệ mù chữ chiếm 12,69% và trình độ đại học chỉ đạt 2,21%. Quỹ đất sản xuất bình quân mỗi hộ chỉ đạt 1,64 ha, trong đó nhóm hộ nghèo sở hữu dưới 1 ha chiếm 38,57%, thúc đẩy hành vi xâm lấn tài nguyên để tạo sinh kế.

Thứ ba, tình hình vi phạm luật bảo vệ rừng biến động bất thường qua các năm. Các vụ việc phá rừng đốt nương rẫy từng bùng phát trong năm 2013 với 56 vụ trên diện tích 5.958 m2, sau đó giảm về 0 vụ vào năm 2015. Tuy nhiên, hành vi khai thác lâm sản trái phép lại có xu hướng phức tạp trở lại khi tăng từ 7 vụ năm 2014 lên 23 vụ trong năm 2015, nhắm vào các loài gỗ quý hiếm như Cẩm lai, Trắc và Giáng hương.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của các phát hiện trên bắt nguồn từ ranh giới tự nhiên kéo dài tiếp giáp tỉnh Bình Thuận dọc theo sông La Ngà, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng khai thác lậu tẩu tán lâm sản bằng đường thủy. Sự chênh lệch lớn về tư liệu sản xuất và suất hỗ trợ khoán bảo vệ rừng còn thấp khiến người dân chưa xem nghề rừng là nguồn thu nhập chính.

So sánh với các nghiên cứu lâm nghiệp cộng đồng tại Ấn Độ và Nepal, việc thiếu vắng cơ chế đồng quản lý rõ ràng là lỗ hổng khiến người dân đứng ngoài cuộc trong việc bảo tồn 287 loài động vật và 200 loài thực vật quý hiếm tại đơn vị. Về mặt trình bày học thuật, các số liệu này được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ hình tròn thể hiện tỷ lệ phân chia trạng thái rừng, biểu đồ cột so sánh biến động số vụ vi phạm lâm luật giai đoạn 2011 - 2015, và bảng ma trận SWOT tổng hợp nhằm cung cấp bức tranh toàn cảnh cho các nhà hoạch định chính sách.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch phân kỳ và củng cố hợp đồng giao khoán đất lâm nghiệp. Ban Quản lý Rừng phòng hộ Tân Phú cần chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Định Quán rà soát toàn bộ 1.297,6 ha đất cây đặc sản nông - lâm kết hợp, tiến hành ký kết hợp đồng giao khoán ổn định cho các hộ gia đình theo đúng quy định tại Quyết định 17/2015/QĐ-TTg, bảo đảm đạt tỷ lệ 100% diện tích đất có chủ quản lý hợp pháp trước năm 2022.

Thứ hai, tăng cường ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thống tuần tra thông minh. Lực lượng kiểm lâm chuyên trách cần ứng dụng ảnh vệ tinh SPOT5, thiết bị định vị vệ tinh GPS và công nghệ máy bay không người lái để giám sát biến động tài nguyên trên toàn bộ 13.862,20 ha rừng, phấn đấu kéo giảm ít nhất 50% số vụ vi phạm khai thác gỗ trái phép trong giai đoạn 2018 - 2025.

Thứ ba, triển khai đa dạng hóa các nguồn tài chính từ dịch vụ môi trường rừng và du lịch sinh thái. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Đồng Nai cần phê duyệt đề án phát triển tuyến du lịch sinh thái Thác Mai - Bàu Nước Sôi, kết hợp thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP, mục tiêu nâng mức thu nhập từ dịch vụ rừng cho 50 hộ nhận khoán tăng thêm 25% vào năm 2023.

Thứ tư, đẩy mạnh các chương trình khuyến lâm và chuyển giao kỹ thuật canh tác bền vững. Ban quản lý kết hợp với chính quyền hai xã Gia Canh và Phú Ngọc tổ chức từ 10 đến 15 lớp tập huấn kỹ thuật nông - lâm kết hợp hàng năm, hỗ trợ cây giống lâm nghiệp chất lượng cao cho hơn 500 hộ đồng bào dân tộc Mạ, Khơme trong lộ trình 2018 - 2025 nhằm xóa bỏ triệt để tập quán chăn thả gia súc tự do trong rừng phòng hộ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các ban quản lý rừng phòng hộ, vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên tại khu vực Đông Nam Bộ. Tài liệu cung cấp giải pháp thực tiễn trong việc xử lý hơn 1.297 ha đất lâm nghiệp bị xâm canh và quy trình kiểm kê 13.862,20 ha đất rừng bằng công nghệ viễn thám.

Nhóm thứ hai là các cơ quan quản lý nhà nước gồm Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai và Ủy ban nhân dân huyện Định Quán. Luận văn là căn cứ khoa học chuẩn xác để hoàn thiện quy chế phối hợp bảo vệ rừng liên tỉnh và định mức chi trả tiền giao khoán bảo vệ rừng theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các trường đại học khối ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu PRA kết hợp phân tích ma trận SWOT trên bộ dữ liệu 50 hộ dân và 30 cán bộ chuyên môn.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ và các nhà điều phối dự án phát triển nông thôn, bảo tồn đa dạng sinh học. Báo cáo cung cấp case study cụ thể về nâng cao năng lực thích ứng sinh kế cho 4 cộng đồng dân tộc thiểu số vùng đệm gắn liền với bảo vệ 24 loài động vật nguy cấp có tên trong Sách Đỏ.

Câu hỏi thường gặp

Rừng phòng hộ Tân Phú có vị trí chiến lược như thế nào đối với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam?

Rừng phòng hộ Tân Phú quản lý 13.862,20 ha rừng xung yếu, trực tiếp bảo vệ và điều tiết nguồn nước cho lòng hồ thủy điện Trị An cùng hạ lưu lưu vực sông La Ngà. Độ che phủ 98% của lâm phận đóng vai trò điều hòa vi khí hậu, chống sạt lở và duy trì an ninh sinh thái bền vững cho toàn tỉnh Đồng Nai.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng xâm lấn đất rừng của cư dân địa phương là gì?

Thực trạng này xuất phát từ việc 38,57% số hộ dân chỉ có diện tích đất canh tác dưới 1 ha và 53,37% dân số có trình độ học vấn dưới trung học cơ sở. Sức ép gia tăng dân số cùng sự thiếu hụt sinh kế phi nông nghiệp khiến người dân bắt buộc phải xâm canh 1.297,6 ha đất rừng để trồng điều và cà phê.

Giá trị đa dạng sinh học của Ban Quản lý Rừng phòng hộ Tân Phú được ghi nhận ra sao?

Hệ sinh thái rừng tại đây lưu trữ hơn 200 loài thực vật thân gỗ với 10 loài quý hiếm thuộc Sách Đỏ như Gõ đỏ, Cẩm lai, Sến mủ. Về động vật học, đơn vị ghi nhận 287 loài động vật hoang dã, trong đó có 24 loài nguy cấp như Voi châu Á, Cu li nhỏ và Trăn gấm được bảo vệ nghiêm ngặt.

Tại sao số vụ vi phạm khai thác gỗ lại tăng đột biến lên 23 vụ vào năm 2015?

Sự gia tăng này do giá trị thương mại của các loài gỗ quý tăng cao và mạng lưới sông La Ngà giáp ranh tỉnh Bình Thuận tạo kẽ hở cho lâm tặc vận chuyển lâm sản lậu. Đồng thời, công tác phối hợp kiểm tra giữa 30 cán bộ bảo vệ rừng và chính quyền địa phương trong thời điểm đó còn gặp nhiều khó khăn.

Mô hình nào được luận văn đề xuất để giải quyết dứt điểm tình trạng phá rừng làm rẫy?

Luận văn đề xuất mô hình đồng quản lý rừng kết hợp giao khoán 100% diện tích theo Quyết định 17/2015/QĐ-TTg, tích hợp canh tác nông lâm kết hợp dưới tán rừng. Đồng thời, nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng và du lịch Thác Mai sẽ tạo việc làm ổn định cho hơn 500 hộ dân nhận khoán.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc trong công tác quản trị 13.862,20 ha rừng phòng hộ xung yếu đầu nguồn hồ thủy điện Trị An.
  • Đánh giá chuẩn xác cơ cấu lâm phần với 11.702,1 ha rừng tự nhiên và phân loại chi tiết 1.297,6 ha đất rừng trồng đặc sản cần chuyển đổi sang mô hình nông - lâm kết hợp bền vững.
  • Chỉ rõ mối quan hệ giữa sinh kế của 23.370 lao động vùng đệm và mức độ áp lực đối với công tác bảo tồn 24 loài động vật quý hiếm thuộc Sách Đỏ Việt Nam.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược bao gồm hoàn thiện giao khoán đất rừng, ứng dụng công nghệ viễn thám SPOT5, đẩy mạnh chi trả dịch vụ môi trường rừng và phát triển sinh kế cộng đồng.
  • Xây dựng lộ trình triển khai rõ ràng từ năm 2018 đến 2025 với mục tiêu giảm 50% số vụ vi phạm khai thác lâm sản và nâng cao 25% thu nhập bình quân cho người dân nhận khoán.

Đóng góp chính của công trình là cung cấp luận cứ học thuật sâu sắc cho ngành Lâm học Việt Nam và mô hình quản trị mẫu cho các khu rừng phòng hộ Đông Nam Bộ. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn bộ dữ liệu điều tra thực địa 50 hộ gia đình và 30 cán bộ chuyên trách để ứng dụng vào công tác hoạch định chính sách lâm nghiệp bền vững tại địa phương ngay hôm nay.