MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài: Hiện nay, sản phẩm cá da trơn Việt Nam đã có mặt ở 128 quốc gia và vùng lãnh thổ. Sản xuất và tiêu thụ cá da trơn ở ĐBSCL nhanh chóng trở thành một trong những mặt hàng thủy sản xuất khẩu chủ lực. Theo VASEP, trong 10 năm qua, sản lượng cá da trơn của Việt Nam đã tăng 50 lần vượt ngưỡng 1 triệu tấn mỗi năm; giá trị xuất khẩu tăng 65 lần tương đương khoảng 2% GDP của cả nước và hiện đang chiếm phần lớn thị phần thế giới. Tuy nhiên, trong những năm qua, ngành sản xuất và chế biến cá da trơn xuất khẩu đối mặt với nhiều khó khăn.
Bên cạnh các yếu tố khách quan như khủng hoảng kinh tế làm cho giá cá giảm; tranh cãi bán phá giá, nhãn hiệu hàng hoá; phải đối mặt những qui định nghiêm ngặt về chất lượng sản phẩm,v.thì yếu tố chủ quan là chuỗi giá trị cá da trơn còn biểu hiện thiếu bền vững. Đó là tình trạng nghề nuôi cá phát triển mang tính tự phát; chất lượng con giống chưa cao, thức ăn chưa kiểm soát chặt chẽ về chất lượng, dịch bệnh cá, giá cả biến động thất thường, việc tranh mua tranh bán, ép giá, v. Mặt khác, người nuôi và nhà chế biến cá da trơn xuất khẩu trong thời gian qua chưa có mối liên kết tốt, thường xuyên xuất hiện tình trạng khủng hoảng (cả thừa và thiếu) nguyên liệu cá khi có biến động giá trên thị trường. Một trong những nguyên nhân là do tồn tại thông tin bất cân xứng giữa các tác nhân tham gia.
Vì thế, để khắc phục những biểu hiện của thực trạng này, nhất thiết phải có nghiên cứu về vai trò điều tiết của Nhà 2 nước trong việc ổn định và phát triển bền vững ngành sản xuất cá da trơn; tạo được mối liên kết chặt chẽ giữa các tác nhân chính. Đó chính là lý do tôi chọn đề tài nghiên cứu “chính sách nhà Nước nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế chuỗi giá trị cá da trơn xuất khẩu”.2 Mục tiêu nghiên cứu Đề tài nghiên cứu nhằm đạt hai mục tiêu. Thứ nhất, đánh giá vai trò của các tác nhân chính tham gia chuỗi, xác định tác nhân chính có vai trò dẫn dắt chuỗi. Thứ hai, xác định các hạn chế về nguyên tắc và quy định, sự thi hành và khuyến khích liên kết giữa các tác nhân trong và ngoài chuỗi giá trị.
Từ đó, đưa ra những đề xuất chính sách.3 Câu hỏi nghiên cứu Để đạt mục tiêu trên, đề tài cần làm rõ (1) vai trò của các tác nhân chính tham gia chuỗi giá trị cá da trơn xuất khẩu, (2) những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về nguyên tắc và các qui định; kiểm soát, (3) xu hướng liên kết giữa các tác nhân chính trong chuỗi, (4) chủ trương, chính sách qui định của nhà nước để tạo sự liên kết hợp tác giữa các tác nhân trong chuỗi nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế chuỗi giá trị cá da trơn xuất khẩu.4 Phạm vi nghiên cứu Đề tài áp dụng cách tiếp cận phân tích chuỗi giá trị để phân tích trường hợp chuỗi giá trị cá da trơn, nhưng chỉ tập trung phân tích chủ yếu ở khía cạnh quản trị và liên kết. Đề tài không nghiên cứu thiết lập bản đồ chuỗi giá trị cá da trơn xuất 3 khẩu cũng như không đi sâu vào phân tích chi phí, lợi nhuận và giá trị gia tăng của chuỗi. An Giang, là một trong hai tỉnh đầu tiên tổ chức nuôi cá tra đại trà ở ĐBSCL. Trong giai đoạn từ năm 1997 đến nay, An Giang luôn là tỉnh có diện tích, sản lượng nuôi lớn trong khu vực ĐBSCL, chỉ sau Thành phố Cần Thơ.
Đề tài nghiên cứu dựa vào bản đồ chuỗi giá trị cá da trơn được thiết lập qua nghiên cứu “phân tích chuỗi giá trị cá tra” thuộc dự án IDRC (tháng 5/2008) có mẫu điều tra khảo sát tại địa bàn An Giang. Vì vậy, đề tài chọn phạm vi nghiên cứu là địa bàn tỉnh An Giang, thông qua chọn mẫu khảo sát các hộ nuôi cá, phỏng vấn các chuyên gia trong cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp chế biến. Ngoài ra, đề tài cũng nghiên cứu khảo sát về Liên hợp sản xuất cá sạch Agifish, đề xuất bổ sung nhằm hoàn thiện mô hình này như một mô hình phù hợp về liên kết dọc. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các qui định chính thức hay không chính thức; thực trạng kiểm soát thực thi các qui định này; vai trò và mối quan hệ tin cậy, liên kết của các tác nhân trong chuỗi.
4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm chuỗi giá trị: Kaplinsky & Morris (2001) cho rằng chuỗi giá trị mô tả toàn bộ dãy hoạt động cần thiết nhằm tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ từ ý tưởng, thông qua các công đoạn sản xuất khác nhau (có liên quan đến sự kết hợp của việc biến đổi vật chất và đầu vào của các dịch vụ nhà sản xuất khác nhau), đến việc giao hàng đến tay người tiêu dùng cuối cùng, và cuối cùng là huỷ bỏ sau khi sử dụng. Theo nghĩa hẹp chuỗi giá trị gồm các hoạt động thực hiện trong phạm vi một công ty để sản xuất ra một sản phẩm nhất định; đó là các hoạt động như: giai đoạn hình thành ý niệm và thiết kế, quá trình mua vật tư đầu vào, sản xuất, tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi,v. Tất cả các hoạt động này tạo thành một “chuỗi” kết nối người sản xuất với người tiêu dùng. Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng (M4P, 2008).
Theo nghĩa rộng chuỗi giá trị là một phức hợp những hoạt động do nhiều đối tượng khác nhau tham gia thực hiện (người sản xuất sơ cấp, nhà chế biến, thương nhân,v.v) để biến một nguyên liệu thô thành thành phẩm được bán lẻ. Bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên liệu thô và chuyển dịch theo những mối liên kết với các doanh nghiệp khác trong kinh doanh, lắp ráp, chế biến, v. Cách tiếp cận 5 này xem xét cả các mối liên kết ngược và xuôi cho đến khi nguyên liệu thô được sản xuất được kết nối với người tiêu dùng cuối cùng (M4P, 2008). Theo sự phân loại về khái niệm của M4P (2008), có ba luồng nghiên cứu chính trong các tài liệu về chuỗi giá trị: (i) phương pháp filière (ii) khung khái niệm do Porter lập ra (1985) và (iii) phương pháp toàn cầu do Kaplinsky đề xuất (1999), Gereffi (1994; 1999; 2003), Gerefff và Korzeniewicz (2004).
Khái niệm chuỗi (filière) dùng để lập sơ đồ dòng chuyển động của hàng hoá và xác định những người tham gia. Cách tiếp cận “filière” với các đặc trưng chủ yếu tập trung vào mối quan hệ vật chất và kỹ thuật định lượng trong sơ đồ dòng chảy của hàng hoá; sơ đồ mối quan hệ chuyển đổi. Trong khung phân tích do Porter đề xuất, khái niệm chuỗi giá trị được sử dụng như khung khái niệm, giúp doanh nghiệp nhận ra lợi thế cạnh tranh của mình. Tính cạnh tranh có thể được phân tích thông qua xem xét chuỗi giá trị ở tất cả các khâu sản xuất hàng hoá từ khâu thiết kế, nguồn cung cấp đầu vào, hậu cần, tiếp thị, hậu mãi cho đến hỗ trợ lập kế hoạch, quản lý nguồn nhân lực v.
Kết quả phân tích chủ yếu nhằn hỗ trợ các quyết định quản lý và điều hành. Khái niệm chuỗi giá trị này, chỉ áp dụng trong kinh doanh. Phương pháp tiếp cận toàn cầu sử dụng khung phân tích chuỗi giá trị để xác định cách thức các công ty hay quốc gia tham gia hội nhập toàn cầu; đánh giá các yếu tố quyết định đến phân phối toàn cầu. Thứ nhất, thông qua thiết lập bản đồ chuỗi, phân tích viêc phân phối tổng thu nhập từ hoạt động của chuỗi cho các tác 6 nhân tham gia.
Thứ hai, phân tích chuỗi giá trị làm sáng tỏ cách thức các công ty hay quốc gia được kết nối như thế nào vào kinh tế thế giới.2 Ý nghĩa của việc phân tích chuỗi giá trị Theo Kaplinsky & Morris (2001), trong kỷ nguyên toàn cầu hoá nhanh chóng, việc phân tích chuỗi giá trị quan trọng bởi ba lý do: Thứ nhất, khả năng cạnh tranh mang tính hệ thống ngày càng trở nên quan trọng hơn trong bối cảnh sự phân công lao động và phân bổ toàn cầu của việc sản xuất các hợp phần ngày càng tăng. Thứ hai, tính hiệu quả trong sản xuất chỉ là một điều kiện cần cho việc thâm nhập thành công vào thị trường toàn cầu. Thứ ba, để việc tham gia vào thị trường toàn cầu mang lại sự thu nhập tăng trưởng bền vững đòi hỏi sự hiểu biết về các nhân tố động bên trong chuỗi giá trị.3 Bốn vấn đề chính của việc phân tích chuỗi giá trị: Lập bản đồ chuỗi giá trị một cách có hệ thống: mô tả các tác nhân tham gia chuỗi ở các khâu sản xuất, phân phối, tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm; đánh giá những đặc trưng như cơ cấu chi phí và lợi ích, dòng sản phẩm trong chuỗi; đặc trưng công việc, mục tiêu đạt được của từng tác nhân Giúp xác định và hiểu rõ việc phân phối lợi ích của các tác nhân trong chuỗi; hiểu biết về các định tố của sự phân phối thu nhập, xác định ai được hưởng lợi từ 7 việc tham gia chuỗi và những tác nhân nào có thể được lợi từ việc gia tăng sự hỗ trợ hay tổ chức. Xem xét sự cách tân và nâng cấp chuỗi: các loại hình nâng cấp, cách thức để cải tiến trong chất lượng và thiết kế sản phẩm cho phép sản xuất để đạt được giá trị cao hơn hoặc thông qua đa dạng hóa trong các dòng sản phẩm phục vụ; đánh giá lợi ích của các tác nhân trong chuỗi khi nhận thông tin tốt hơn; vấn đề quản trị, cấu trúc của các quy định, các rào cản nhập cảnh, hạn chế thương mại, và các tiêu chuẩn.
Vai trò của quản trị: cấu trúc của mối quan hệ và cơ chế phối hợp hiện hữu giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị; xác định các thay đổi cần thiết về thể chế để cải thiện năng lực trong chuỗi giá trị, khắc phục biến dạng trong phân phối và gia tăng giá trị gia tăng.4 Công cụ phân tích chuỗi giá trị: Sổ tay thực hành phân tích chuỗi giá trị (M4P, 2008) giới thiệu tám công cụ phân tích chuỗi giá trị.