mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là ngƣời gửi tiền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách, khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận đƣợc tiền. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng. Khi ngân hàng thành lập các chi nhánh, phạm vi thanh toán qua ngân hàng đƣợc mở rộng, càng tạo nhiều tiện ích hơn. Điều này đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để nhờ thanh toán hộ.
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, bên cạnh các thể thức thanh toán nhƣ séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, đã phát triển các hình thức thanh toán mới bằng điện, thẻ… 1.4 Hoạt động khác Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Tùy vào khả năng, thế mạnh, chiến lƣợc phát triển của các ngân hàng mà họ có thể triển khai các dịch vụ nhƣ: bảo quản tài sản hộ, quản lý ngân quỹ, cung cấp các dịch vụ uỷ thác và tƣ vấn, dich vụ môi giới đầu tƣ chứng khoán, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lí … 9 Sinh viên:Văn Thị Vân Anh Lớp:510TCN Ngành: Tài chính – Ngân hàng 1.2 Nguồn vốn của NHTM Nguồn vốn của Ngân hàng Thƣơng mại là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động hay tạo lập đƣợc dùng để cho vay đầu tƣ hoặc thực hiện các mục đích kinh doanh khác của Ngân hàng. Nguồn vốn của Ngân hàng thƣơng mại gồm các loại vốn nhƣ sau: 1.1 Vốn tự có Là những giá trị tiền tệ do bản thân Ngân hàng tạo lập nên. Vốn tự có của Ngân hàng Thƣơng mại cũng là vốn sở hữu riêng của mỗi Ngân hàng đƣợc hình thành từ ban đầu.
Với Ngân hàng Thƣơng mại quốc doanh vốn hình thành ban đầu là vốn của nhà nƣớc cấp, các Ngân hàng thƣơng mại cổ phần do cổ đông đóng góp. Vốn tự có đóng vai trò rất quan trọng, nó là cơ sở để thành lập Ngân hàng, nó là nguồn vốn duy nhất dùng để xây dựng mua sắm tài sản cố định.Vì vậy nó quyết định khả năng hiện đại hoá Ngân hàng. Vốn tự có của Ngân hàng là cơ sở tối thiểu cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nói chung và an toàn cho ngƣời gửi tiền nói riêng. Nó quyết định tới quy mô huy động vốn, sử dụng vốn và khẳng định vị thế của Ngân hàng trên thị trƣờng.2 Vốn huy động Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động đƣợc từ các tổ chức kinh tếvà cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác và đƣợc dùng làm vốn để kinh doanh.
Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số nguồn vốn của Ngân hàng.Đây là tài sản của các chủ sở hữu, Ngân hàng đƣợc quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả khi huy động. Các Ngân hàng không đƣợc phép huy động vƣợt quá 20 lần so với vốn tự có. Vốn huy động là công cụ chính đối với các hoạt động kinh doanh của các NHTM. 10 Sinh viên:Văn Thị Vân Anh Lớp:510TCN Ngành: Tài chính – Ngân hàng Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng và giữ vị trí quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Mặc dù bị giới hạn về mức huy động vốn, song nếu các NHTM sử dụng tốt nguốn vốn này thì không những nguồn lợi của ngân hàng đƣợc tăng lên mà còn tạo cho ngân hàng uy tín ngày càng cao. Qua đó ngân hàng có thể mở rộng đƣợc vốn và mở rộng qui mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Các nguồn vốn huy động: Tiền gửi của các tổ chức kinh tế và ký quỹ,tiền gửi tiết kiệm, vốn phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi.3 Vốn đi vay Nguồn tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của Ngân hàng Thƣơng mại tuy nhiên khi cần Ngân hàng thƣờng vay mƣợn thêm. Ngân hàng có thể vay Ngân hàng Trung ƣơng thông qua hình thức tái chiết khấu hoặc tái cấp vốn.
Hoặc vay các tổ chức tín dụng khác trên thị trƣờng liên ngân hàng.4 Vốn khác Các loại vốn khác đƣợc hình thành trong quá trình hoạt động nghiệp vụ và đƣợc sử dụng theo các quy định của Ngân hàng Nhà nƣớc.3 Hoạt động huy động vốn của NHTM 1.1 Khái niệm Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng của NHTM. Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác nhƣ cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Nhìn vào bảng cân đối tài sản của NHTM chúng ta thấy rằng hoạt động huy động vốn đƣợc phản ánh bên phần tài sản nợ. Do vậy, huy động vốn còn đƣợc gọi là nghiệp vụ tài sản nợ.
11 Sinh viên:Văn Thị Vân Anh Lớp:510TCN Ngành: Tài chính – Ngân hàng 1. Tầm quan trọng của hoạt động huy động vốn 1.1 Đối với nền kinh tế Nghiệp vụ huy động vốn giúp cho các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội đƣợc tập trung về một mối, thuận tiện cho việc phân phối lại chúng, tránh đƣợc tình trạng lãng phí nguồn vốn Với nền kinh tế thì hoạt động huy động vốn là không thể thiếu nhất là khi nền kinh tế có lạm phát, lúc đó huy động vốn là một trong những công cụ để kiềm chế lạm phát. Khi nền kinh tế trong giai đoạn phát triển, huy động vốn giúp cho nó phát triển nhịp nhàng, hiệu quả hơn. Vì thế đẩy mạnh công tác huy động vốn ở mỗi NHTM có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế.2 Đối với NHTM Mục đích của huy động vốn là vấn đề mang tính sống còn của bất kỳ tổ chức tín dụng nào trong nền kinh tế thị trƣờng và cũng là mục tiêu phải đạt tới nằm trong chính sách “đi vay để cho vay” của Ngân hàng Thƣơng mại.
Trong môi trƣờng kinh doanh ngày nay sự cạnh tranh diễn ra gay gắt thì vốn là một yếu tố giúp các ngân hàng thắng thế trong cạnh tranh. Ngân hàng nào trƣờng vốn sẽ có khả năng thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng, có khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh, tăng thêm thu nhập và củng cố vị thế trên thị thƣơng trƣờng. Nhận thức đƣợc vai trò to lớn của vốn trong hoạt động kinh doanh, các NHTM luôn tìm cách phát triển nguồn vốn của mình, tìm mọi biện pháp để đẩy mạnh hiệu quả của công tác huy động vốn. Hoạt động huy động vốn góp phần mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh khác.
Không có hoạt động này ngân hàng sẽ không có đủ nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của mình. Mặt khác,thông qua hoạt động huy động vốn, NHTM cũng có thể đo lƣờng đƣợc uy tín cũng nhƣ sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng đó. 12 Sinh viên:Văn Thị Vân Anh Lớp:510TCN Ngành: Tài chính – Ngân hàng Làm tốt công tác huy động vốn cũng đồng nghĩa với ngân hàng làm tốt nhiệm vụ quan trọng nhất của mình. Cho nên mọi NHTM đều ý thức đƣợc sự cần thiết của việc đẩy mạnh hiệu quả hoạt động huy động vốn.
Từ đó, NHTM có các biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng.3 Đối với khách hàng Đối với dân cư Nghiệp vụ huy động vốn đã cung cấp cho mọi ngƣời dân các phƣơng thức tiết kiệm tiền hợp lý và an toàn. Nguồn tiền tiết kiệm trong dân cƣ rất dồi dào, có nhiều điều kiện thuận lợi để ngân hàng sử dụng kinh doanh. Để thu hút đƣợc các nguồn vốn này các ngân hàng đã sử dụng nhiều hình thức huy động vốn phong phú và tiện lợi. Điều này giúp ngƣời dân dễ dàng lựa chọn một hình thức gửi tiền phù hợp với đặc điểm khoản tiền của mình.
Do đó tâm lý ngƣời dân luôn mong ngân hàng đƣa ra đƣợc các hình thức huy động vốn hiệu quả, có lợi cho cả hai bên: vừa ích nƣớc vừa lợi nhà, vừa an toàn tài sản. Đối với các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp Nghiệp vụ huy động vốn đã giúp cho các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp thuận tiện trong thanh toán giao dịch thông qua tài khoản tiền gửi thanh toán. Nếu ngân hàng đẩy mạnh công tác huy động vốn thì sẽ giúp các doanh nghiệp rất nhiều trong hoạt động kinh doanh, làm cho hoạt động của doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế luôn trôi chảy. Hơn nữa, các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế đều có quan hệ tín dụng với ngân hàng và huy động vốn có hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp có vốn kịp thời bất cứ lúc nào mà doanh nghiệp cần vốn.
Do đó đứng ở góc độ doanh nghiệp thì nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn ở mỗi ngân hàng là cần thiết. Hoạt động huy động vốn cung cấp cho họ một kênh tiết kiệm 13 Sinh viên:Văn Thị Vân Anh Lớp:510TCN Ngành: Tài chính – Ngân hàng đầu tƣ nhằm làm cho tiền của họ sinh lợi, tạo cơ hội cho họ có thể tham gia tiêu dùng trong tƣơng lai. Mặt khác hoạt động này còn cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để họ cất trữ và tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi. Hoạt động này cũng giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ của ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng và dịch vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn sản xuất, kinh doanh hoặc cần tiền cho tiêu dùng.3 Các hình thức huy động vốn của NHTM Vốn huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thƣơng mại.
Nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn và cũng quyết định đến quy mô hoạt động kinh doanh, đến khả năng thanh toán chi trả, đến năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Thƣơng mại. Theo Nghị định 49/2000/NĐ-CP ngày 12/09/2000 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng thƣơng mại nhằm cụ thể hóa việc thi hành Luật Các Tổ chức tín dụng, ngân hàng thƣơng mại đƣợc huy động vốn dƣới các hình thức sau đây: 1.1 Huy động vốn theo tiền gửi và phát hành các giấy tờ có giá Theo cách phân loại này, nguồn vốn huy động của NHTM đƣợc phân thành: Tiền gửi thanh toán: Là khoản tiền gửi mà ngƣời gửi tiền vào NHTM với mục đích thanh toán.