CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.Tổng quan về tín dụng và một số vấn đề về hoạt động tín dụng 1. Tổng quan về tín dụng a. Khái niệm về tín dụng Tín dụng ngân hàng: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các NH với các Công ty, Tổ chức kinh tế, các tổ chức và cá nhân được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay đối với các đối tượng nói trên” (theo TS. Nguyễn Đăng Dờn, 2008) Theo Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 năm 2010 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Có nhiều định nghĩa và cách hiểu về tín dụng ngân hàng (TDNH), nhưng chung quy lại thì nó hàm chứa ba nội dung chính sau: - Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ chủ sở hữu sang người sử dụng. - Sự chuyển nhượng này có thời hạn. - Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí và rủi ro. Bản chất của tín dụng Về mặt hình thức, tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng và khi đến hạn, người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn.
Khoản giá trị dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng. Tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh giữa người đi vay và người cho vay, nhờ quan hệ ấy mà vốn tiền tệ được vận động từ chủ thể này sang chủ thể khác để sử dụng cho các nhu cầu khác nhau trong nền kinh tế xã hội (theo PGS.TS Nguyễn Đăng Dờn, 2008). Như vậy, bản chất của tín dụng Ngân hàng được thể hiện đầy đủ khi tín dụng Ngân hàng thực hiện các chức năng: Chức năng dịch chuyển nguồn vốn, chức năng phát hành, chức năng giám soát hoạt động của các chủ thể nền kinh tế. Về bản chất kinh tế của thị trường vốn, hoạt động tín dụng chứa ẩn nhiều yếu tố rủi ro đối với không những Ngân hàng mà còn đối với chủ nợ của Ngân 8 hàng, nên việc quản lý tín dụng, quản lý rủi ro là yêu cầu quan trọng trong quản trị Ngân hàng.
Nguyên tắc của hoạt động tín dụng Theo điều 4, thông tư số 39/2016/TT-NHNN ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng có nêu rõ các nguyên tắc của tín dụng bao gồm: Nguyên tắc thứ nhất: Cho vay phải theo phương hướng mục tiêu, kế hoạch sản xuất kinh doanh của người vay vốn phù hợp với kế hoạch sản xuất phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước và phải có hiệu quả (phương án sản xuất kinh doanh khả thi). Nguyên tắc thứ hai: Cho vay có giá trị tương đương làm bảo đảm. Nguyên tắc này đặt ra theo yêu cầu tất yếu khách quan của quy luật lưu thông tiền tệ, đòi hỏi các ngân hàng khi cấp tín dụng phải dựa trên cơ sở tài sản thế chấp hợp pháp và có các vật tư có giá trị tương đương. Các giá trị tương đương làm bảo đảm có thể là tài sản cố định, vật tư hang hoá trong kho hay đang trên đường vận chuyển, các giấy tờ có giá, các quyền về tài sản… Nguyên tắc thứ ba: Cho vay có hoàn trả vốn và lãi sau một thời gian nhất định.
Đây là nguyên tắc thể hiện tính đặc trưng của tín dụng ngân hàng, đòi hỏi các khoản tiền ngân hàng cho vay sau khi đã sử dụng vào mục đích của người vay phải được hoàn trả cho ngân hàng theo đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng cả vốn và lãi vay. Các hình thức tín dụng Căn cứ vào thời hạn tín dụng được phân chia theo điều 10 của thông tư số 39/2016/TT-NHNN: + Tín dụng ngắn hạn: la tín dụng có thời hạn dưới 1 năm. Thường được phục vụ cho việc huy động và bổ sung vốn lưu động của doanh nghiệp hoặc phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng bức thiết của dân cư. + Tín dụng trung hạn là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm.
Loại tín dụng này phục vụ cho nhu cầu mua sắm tài sản cố định, đầu tư mở rộng sản xuất với quy mô nhỏ, thu hồi vốn nhanh. + Tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời hạn cho vay từ 5 năm trở lên. Loại tín dụng này được dùng để đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở của nền kinh tế quốc dân, đầu tư chiều sâu để nâng cao năng suất lao động và tạo vị thế cho các ngành công nghiệp then chốt và khả năng hợp tác chuyên ngành và đa ngành, đồng thời góp phần đổi mới cơ cấu của nền kinh tế quốc dân. + Tín dụng không kỳ hạn là loại tín dụng mà người cho vay không quy định thời hạn cho vay, khi cần có thể yêu cầu người đi vay hoàn lại vốn bất cứ lúc nào.
9 Căn cứ vào đối tượng của tín dụng + Tín dụng hiện vật là loại tín dụng khi vay khi trả đều dùng hiện vật như thóc, gạo, gạch. + Tín dụng tiền tệ là loại tín dụng khi vay và khi trả đều dùng tiền tệ, bao gồm cả quan hệ vay mượn bằng những giấy tờ có giá. + Loại tín dụng hỗn hợp vừa tiền, vừa hiện vật gồm các loại tín dụng khi vay bằng hiện vật, khi trả bằng tiền hoặc khi vay bằng tiền, khi trả bằng hiện vật. Căn cứ vào sự bảo đảm hoàn trả nợ + Tín dụng tín chấp là hình thức tín dụng mà việc cho vay vốn dựa trên uy tín của người vay để đảm bảo việc hoàn trả nợ.
+ Tín dụng thế chấp (vật chấp) là sự vay mượn mà việc hoàn trả nợ được đảm bảo không chỉ bới uy tín của người vay mà còn được đảm bảo bằng các tài sản của người đi vay hoặc người bảo lãnh của người đi vay. Căn cứ vào lãnh thổ hoạt động + Tín dụng nội địa là việc vay mượn phát sinh giữa các bên hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. + Tín dụng quốc tế là việc vay mượn phát sinh giữa các bên hoạt động trên các lãnh thổ khác nhau như giữa hai chính phủ, hai doanh nghiệp, hai cá nhân thuộc hai quốc gia khác nhau hoặc với tổ chức quốc tế nào đó. Căn cứ vào chủ thể tham gia tín dụng + Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng do các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, doanh nhân cấp cho nhau không có sự tham gia của hệ thống ngân hàng.
Hình thức phổ biến nhất của tín dụng thương mại là mua chịu hàng hóa. + Tín dụng ngân hàng: Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng giữa một bên là các ngân hàng, các tổ chức tín dụng và một bên là các chủ thể kinh tế - tài chính của toàn xã hội. + Tín dụng nhà nước: là quan hệ vay mượn giữa nhà nước với xã hội để phục vụ cho việc thực thi các chức năng quản lý kinh tế - xã hội của mình. + Tín dụng tiêu dùng: là quan hệ tín dụng phục vụ cho việc tiêu dùng của dân cư với người tiêu dùng là người đi vay và doanh nghiệp, cá nhân là người cho vay.
Các phương thức cho vay Theo điều 30 của quy chế cho vay của ngân hàng nhà nước trong thông tư 39/2016/TT-NHNN, các tổ chức tín dụng được phép thỏa thuận với khách hàng việc áp dụng các phương thức cho vay sau: Cho vay từng lần: Mỗi lần cho vay, tổ chức tín dụng và khách hàng thực hiện thủ tục cho vay và ký kết thỏa thuận cho vay. 10 Cho vay theo hạn mức tín dụng: tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng và duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Cho vay theo dự án đầu tư: tổ chức tín dụng cho khách hàng vay để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và dự án đầu tư phục vụ đời sống. Cho vay hợp vốn: là việc có từ hai tổ chức tín dụng trở lên cùng thực hiện cho vay đối với khách hàng để thực hiện một phương án, dự án vay vốn.
Cho vay trả góp: Khi vay vốn tổ chức tín dụng và khách hàng xác định số lãi vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời gian cho vay. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Cho vay theo hạn mức thấu chi: tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng một mức thấu chi tối đa để thực hiện dịch vụ thanh toán trên tài khoản thanh toán. Có nhiều phương thức cho vay khác nhau tuy nhiên ngân hàng chỉ áp dụng phương thức cho vay phổ biến nhất là phương thức cho vay từng lần và phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng 1.
Vai trò của hoạt động tín dụng đối với sự phát triển kinh tế Tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Vì vậy theo luật các tổ chức tín dụng 2010, tín dụng có các vai trò chủ yếu sau đây: Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ: Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng, nhờ chức năng này mà các nguồn vốn tiền tệ trong xã hội được điều tiết từ nơi “thừa” sang nơi “thiếu” để sử dụng nhằm phát triển nền kinh tế. Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là hai mặt hợp thành chức năng cốt lõi của tín dụng. + Ở mặt tập trung vốn tiền tệ: tập trung nguồn tiền nhàn rỗi.
+ Ở mặt phân phối lại vốn tiền tệ: là sự chuyển hóa để sử dụng các nguồn vốn đã tập trung được để đáp ứng nhu cầu sản xuất, lưu thông.