CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1. Sự ra đời, khái niệm và đặc điểm của Ngân hàng Phát triển Trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, các nước Tây Âu và một số nước Nam Mỹ, mô hình Ngân hàng Phát triển (NHPT) đã ra đời từ khá sớm, hoạt động song song với các ngân hàng khác nhưng hình thức và tên gọi khác nhau. Ở những quốc gia này, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, luôn luôn tồn tại những đối tượng vay vốn khó có khả năng tiếp cận với nguồn vốn tín dụng thương mại.
Đó là những dự án có nhu cầu vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài, có nhiều rủi ro về khả năng sinh lời cũng như khả năng thu hồi vốn hoặc những dự án đầu tư vào địa bàn đặc biệt khó khăn. Bên cạnh đó, nguồn vốn ngân sách nhà nước không phải lúc nào cũng có thể đáp ứng đủ cho nhu cầu đầu tư của dự án trên. Trong khi những đối tượng này lại có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, đảm bảo an sinh và công bằng xã hội. Và NHPT ra đời để thực hiện nhiệm vụ tài trợ vốn vay cho các đối tượng đặc biệt này, thông qua hoạt động tín dụng đầu tư (TDĐT).
“NHPT là trung gian tài chính có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và xã hội của các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển. Thông qua hoạt động tài trợ trung và dài hạn của NHPT cho các dự án đầu tư và các đối tượng đặc biệt đã tạo ra sản phẩm chiến lược, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của ngành, vùng lãnh thổ và chuyển dịch cơ cấu thu nhập của một số bộ phận dân cư. Ngân hàng Phát triển là một tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu là tài trợ trung và dài hạn cho các dự án phát triển và các đối tượng đặc biệt trong nền kinh tế. ” [2] Một số đặc điểm của loại hình NHPT đó là: - Ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước hoặc có mối quan hệ chặt chẽ với Chính phủ.
- Huy động các nguồn vốn trung và dài hạn để tài trợ cho những dự án có quy mô vốn lớn, thời gian sử dụng vốn dài và có lãi suất ưu đãi cho các dự án phát triển. 8 - Hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, mục tiêu cuối cùng của NHPT là hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia. Khái niệm hoạt động tín dụng đầu tư tại Ngân hàng Phát triển Theo quan điểm của C.Mác thì: “Tín dụng là quá trình chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng, sau một thời gian nhất định thu hồi một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu” Theo Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2010 định nghĩa: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” “Tín dụng ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán ” [1] Trong nền kinh tế, ngân hàng là một trung gian tài chính, vì vậy trong quan hệ tín dụng với các doanh nghiệp và cá nhân, ngân hàng vừa là người cho vay đồng thời vừa là người đi vay. Với tư cách là người đi vay ngân hàng nhận tiền gửi của các doanh nghiệp và cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội.
Với tư cách là người cho vay thì ngân hàng cung cấp vốn vay cho các doanh nghiệp và cá nhân. Có nhiều tiêu chí để phân loại tín dụng ngân hàng như: theo mục đích sử dụng tiền vay, theo thời hạn sử dụng tiền vay, theo hình thức bảo đảm tiền vay, theo thành phần kinh tế… Dựa theo thời hạn sử dụng tiền vay ta có thể chia tín dụng ngân hàng thành ba loại: - Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn tối đa 1 năm, thường được cấp cho các doanh nghiệp vay để bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động, cho cá nhân vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng hay để sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán của 9 Ngân hàng. - Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm, được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
TDĐT thuộc loại hình tín dụng trung và dài hạn, đối tượng cho vay là các tổ chức trong nền kinh tế để thực hiện các dự án đầu tư phát triển. Điểm khác biệt giữa TDĐT của NHPT với tín dụng trung dài hạn của ngân hàng thương mại đó là mục tiêu đạt được cuối cùng. Nếu tín dụng trung dài hạn của NHTM hướng tới mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận cho chủ thể cấp vốn thì TDĐT của NHPT là công cụ tài chính của Chính phủ để thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể. Từ đó, ta có thể đưa ra khái niệm về hoạt động TDĐT tại NHPT như sau: Hoạt động TDĐT tại NHPT là quan hệ vay - trả giữa NHPT và các tổ chức trong nền kinh tế thông qua nguồn vốn TDĐT của Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội quốc gia trong từng thời kỳ nhất định.
Tại Việt Nam, hoạt động cho vay vốn TDĐT của Nhà nước chỉ được thực hiện thông qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Đặc điểm của hoạt động tín dụng đầu tư tại Ngân hàng Phát triển - TDĐT là loại hình tín dụng trung và dài hạn, tập trung vào các dự án được Nhà nước khuyến khích đầu tư trong từng thời kỳ. - Đối tượng cấp vốn TDĐT của NHPT tuân theo các quy định về chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ, một số dự án cho vay theo chỉ định của Chính phủ, chủ yếu tập trung vào các ngành, các lĩnh vực có tác động trực tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trường, an sinh xã hội.thời gian cho vay vốn thường kéo dài và chứa đựng nhiều rủi ro cho NHPT. - Nguồn vốn thực hiện TDĐT bao gồm: Vốn ngân sách nhà nước (NSNN) cấp, vốn tích lũy của NHPT, huy động tiền gửi từ các tổ chức trong đó tập trung chủ yếu 10 vào tiền gửi trung và dài hạn, vốn vay các tổ chức, phát hành giấy tờ có giá trên thị trường tài chính, chủ yếu là trên thị trường vốn để huy động vốn trung và dài hạn.
- Hoạt động TDĐT tại NHPT thể hiện tính chất ưu đãi hơn tín dụng của NHTM ở một số điểm như: lãi suất thấp hơn lãi suất thương mại, quy mô cho vay lớn, thời gian cho vay dài, đối tượng vay vốn đặc thù mà nguồn vốn thương mại thường không muốn tiếp cận do có độ rủi ro cao. Vai trò của hoạt động tín dụng đầu tư tại Ngân hàng Phát triển - Hoạt động TDĐT góp phần tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế. Đây là mục tiêu chung của tất cả các quốc gia, đặc biệt là đối với những nước đang phát triển. TDĐT tập trung và dành cho ngành công nghiệp mức vốn cao hơn trung bình đầu tư của toàn xã hội, đưa công nghiệp trở thành giữ vị trí chủ đạo và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế.
- Hoạt động TDĐT góp phần nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế, phát triển nông nghiệp, nông thôn, bảo đảm an sinh xã hội. Các dự án đầu tư tạo tiền đề để góp phần chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu nông nghiệp nông thôn, phát triển ngành nghề mới, mang lại những thành quả to lớn cho khu vực nông thôn. - Hoạt động TDĐT góp phần nâng cao vị thế của quốc gia, tạo điều kiện mở rộng và phát triển hoạt động kinh tế đối ngoại. Trong điều kiện hội nhập và phát triển quốc tế và khu vực ngày càng sâu rộng và mạnh mẽ, nguồn vốn đầu tư quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế.
- Hoạt động TDĐT là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô các quan hệ cân đối lớn của nền kinh tế và hướng dẫn hành vi của các chủ thể trong nền kinh tế. Để khắc phục những khiếm khuyết của thị trường như nạn ô nhiễm môi trường, tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân công xã hội, phát triển không cân đối giữa các vùng miền,… 1. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1. Khái niệm hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư của Ngân hàng Phát triển 11 Hiệu quả là một phạm trù khoa học phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Như vậy hiệu quả tín dụng (hiệu quả cho vay) của Ngân hàng chính là so sánh lợi nhuận/doanh thu đạt được trên chi phí vốn vay đã bỏ ra. Theo phạm vi lợi ích, hiệu quả của một tổ chức được đánh giá trên hai khía cạnh là hiệu quả tài chính và hiệu quả KT-XH: - “Hiệu quả tài chính là hiệu quả được xem xét trong phạm vi một chủ thể, thường là một doanh nghiệp hay ngân hàng. Theo đó, hiệu quả tài chính của một tổ chức cho biết giá trị gia tăng mà tổ chức đó có được từ việc đầu tư vào hoạt động nào đó.