Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Chương 3: Định hướng phát triển và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam. 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại Để hiểu rõ khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, ta lần lượt tìm hiểu các khái niệm về hiệu quả và hiệu quả kinh doanh như sau: Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh (Manfred Kuhn). Một quan điểm khác: Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, nó xuất hiện và tồn tại từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến xã hội xã hội chủ nghĩa. Hiệu quả kinh doanh thể hiện trình độ sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh theo mục đích nhất định.
Xét trên bình diện các quan điểm kinh tế học cũng có nhiều ý kiến khác nhau về hiệu quả như sau: Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá (Adam Smith). Hay khái niệm “Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ so sánh tương đối giữa kết quả và chi phí để đạt được kết quả đó”. Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát Hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp hay của một ngân hàng thương mại là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn.) để đạt được mục tiêu xác định. Trình độ sử dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh gía trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra ở mức độ nào.
Đứng trên góc độ xã hội, sự hao phí nguồn lực xem xét phải là chi phí xã hội, do có sự kết hợp của các yếu tố lao động, tư liệu lao động và 2 đối tượng lao động theo một tương quan cả về lượng và chất trong quá trình kinh doanh để tạo ra sản phẩm đủ tiêu chuẩn cho tiêu dùng. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thương mại là vấn đề phức tạp có quan hệ đến toàn bộ các yếu tố của quá trình kinh doanh. Doanh nghiệp chỉ có thể đạt được hiệu quả kinh doanh khi sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả. Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của một ngân hàng, trong bài viết này, học viên tập trung sử dụng một số nhóm chỉ tiêu sau: Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên, tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên, chênh lệch lãi suất bình quân và lợi nhuận trước thuế.
Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu ROE là viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Return On Equity”, có nghĩa là lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay lợi nhuận trên vốn. ROE được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng sau thuế chia cho vốn chủ sở hữu bình quân. Công thức tính như sau: Lợi nhuận sau thuế ROE= *100 (1.1) Vốn chủ sở hữu bình quân (Nguyễn Minh Kiều 2011) Trong công thức trên, lợi nhuận sau thuế được thu thập từ báo cáo kết quả kinh doanh và vốn chủ sở hữu bình quân được tính bằng cách lấy bình quân vốn chủ sở hữu đầu kỳ và cuối kỳ. Đây là chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng.
Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng. Về mặt lý thuyết, ROE càng cao thì sử dụng vốn càng có hiệu quả. Các loại cổ phiếu có ROE cao thường được các nhà đầu tư ưa chuộng. Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản 3 ROA là viết tắt của cụm từ tiếng Anh Return on Assets, là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng và cũng là một thước đo để đánh giá năng lực quản lý của ban lãnh đạo công ty.
Công thức tính như sau: Lợi nhuận sau thuế ROA= *100 (1.2) Tổng tài sản bình quân (Nguyễn Minh Kiều 2011) Trong công thức trên, lợi nhuận sau thuế được thu thập từ báo cáo kết quả kinh doanh và tổng tài sản bình quân được tính bằng cách lấy bình quân tổng cộng tài sản đầu kỳ và cuối kỳ. Hệ số này có ý nghĩa là với một đồng tài sản của công ty thì sẽ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nó là một thông số chủ yếu về tính hiệu quả quản lý. Nó chỉ ra khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng.
Về mặt lý thuyết, nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa ngân hàng làm ăn có lãi. Tỷ số càng cao cho thấy ngân hàng làm ăn càng hiệu quả. Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì ngân hàng làm ăn thua lỗ. Tỷ lệ lãi ròng Để đánh giá hiệu quả tín dụng, huy động vốn trong nội bộ ngân hàng thương mại, người ta sử dụng tỷ lệ lãi ròng (NIM=Net Interest Margin) là tỷ số giữa thu nhập lãi ròng với tài sản có sinh lời bình quân.
Công thức tính như sau: Thu nhập lãi ròng Tỷ lệ lãi ròng (NIM)= *100 (1.3) ình quân tài sản có sinh lãi (Nguyễn Minh Kiều 2011) Trong đó công thức trên, thu nhập lãi ròng là chênh lệch giữa toàn bộ doanh thu lãi và chi phí trả lãi. Chỉ tiêu thu nhập lãi ròng được thể hiện trên báo cáo kết quả kinh doanh, nó bằng tổng doanh thu lãi trừ đi tổng chi phí trả lãi. Tổng tài sản có sinh lời bình quân được xác định bằng cách lấy bình quân số dư đầu kỳ và cuối 4 kỳ của các khoản mục, tiền gửi tại NHNN và các Tổ chức tín dụng (TCTD), cho vay các TCTD khác, cho vay khách hàng, chứng khoán đầu tư và kinh doanh trên bảng cân đối tài khoản kế toán. Chênh lệch lãi suất bình quân Chênh lệch lãi suất bình quân đo lường hiệu quả đối với hoạt động trung gian của ngân hàng trong quá trình huy động vốn và cho vay, đồng thời nó cũng đo lường cường độ cạnh tranh trong thị trường của ngân hàng.
Sự cạnh tranh gay gắt có xu hướng thu hẹp mức chênh lệch lãi suất bình quân. Doanh thu lãi Chênh lệch lãi suất = - (1.4) ình quân tài sản có sinh lãi (Nguyễn Minh Kiều 2011) Theo công thức trên, Doanh thu lãi và chi phí trả lãi lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh. Tài sản có sinh lời bình quân được tính như công thức 1.3, bình quân nguồn vốn huy động phải trả lãi được tính bằng cách lấy bình quân đầu kỳ và cuối kỳ nguồn vốn huy động phải trả lãi trên bảng cân đối tài khoản kế toán. Chỉ tiêu tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu và chi ngoài lãi, chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch vụ như thanh toán, kinh doanh ngoại tệ…và chi phí ngoài lãi là các khoản chi ngoài lãi mà ngân hàng phải chịu như chi lương, chi phí sửa chửa, bảo hành thiết bị và chi phí tổn thất tín dụng.
Thu nhập ngoài lãi ròng Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên = *100 (1.5) ình quân tài sản có sinh lãi (Peter S.Rose 1998) Đối với hầu hết các ngân hàng, chênh lệch ngoài lãi thường âm. Ngày nay, Các ngân hàng đều rất quan tâm đến việc gia tăng tỷ lệ thu từ nguồn này do đây là nguồn thu từ các dịch vụ mang lại lợi nhuận cho ngân hàng nhưng ít mang lại rủi ro 5 cho ngân hàng hơn là nguồn thu từ hoạt động cho vay. Tài sản có sinh lời bình quân được tính như công thức 3. Tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên Tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên chỉ ra rằng chiến lược của ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu là thu từ các khoản cho vay, đầu tư và phí dịch vụ) so với mức tăng của chi phí (chủ yếu là chi phí trả lãi cho tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ, tiền lương nhân viên và chi phí phúc lợi).
Tổng thu từ hoạt động-Tổng chi phí hoạt động Tỷ lệ thu nhập hoạt động cận biên= (1.6) ình quân tài sản có sinh lãi (Peter S.Rose 1998) Theo công thức trên, thu nhập hoạt động và chi phí hoạt động lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh, trong đó: Thu nhập hoạt động bao gồm các khoản thu nhập lãi và thu nhập ngoài lãi, chi phí hoạt động bao gồm chi phí lãi và chi phí ngoài lãi. Tài sản có sinh lời bình quân được tính như công thức 1. Chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế “Lợi nhuận trước thuế là tổng lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được trong kỳ bao gồm lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh và lợi nhuận khác” ( ùi Hữu Phước 2009, trang 266). Đối với ngân hàng: Lợi nhuận này thể hiện trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, được tính bằng doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh trừ chi phí hoạt động kinh doanh.
Đây là chỉ tiêu dùng để đánh giá xem ngân hàng có thể tạo được bao nhiêu lợi nhuận trong kỳ. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Nhân tố chủ quan 6 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại bị tác động bởi các nhân tố chủ quan có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả kinh doanh của ngân hàng như sau: 1. Mạng lưới hoạt động của ngân hàng Một ngân hàng có mạng lưới rộng, phân bố hợp lý thì thuận lợi hơn trong việc tăng cường giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của mình đến khách hàng, thu hút được nhiều khách hàng, gia tăng thị phần, từ đó giúp tăng thu nhập cho ngân hàng.