Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định

Chuyên khảo phân tích Hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân huyện vĩnh thạnh tỉnh bình định, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Trường Đại học Quy Nhơn

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2021

106
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

0.5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn

0.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

0.7. Kết cấu của luận văn

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN

1.1. Những vấn đề cơ bản về Hội đồng nhân dân cấp huyện

1.1.1. Khái niệm

1.2. Nguyên tắc giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

1.3. Chủ thể, đối tượng giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

1.4. Nội dung, hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

1.6. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH

2.1. Tổng quan về Hội đồng nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định

2.2. Kết quả giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định

2.2.1. Giám sát tại kỳ họp

2.2.2. Giám sát giữa hai kỳ họp

2.2.3. Đánh giá chung về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định

2.2.3.1. Những kết quả đạt được
2.2.3.2. Những hạn chế
2.2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH

3.1. Kết luận chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Giám Sát HĐND Huyện Vĩnh Thạnh Vai Trò Ý Nghĩa

Hội đồng nhân dân (HĐND) là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân. HĐND thực hiện hai chức năng cơ bản: quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương và giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của HĐND. Chức năng giám sát có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, đảm bảo HĐND thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, thực hiện đúng nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Thực hiện tốt chức năng giám sát là một trong những yêu cầu quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND. Theo khoản 1, Điều 113 Hiến pháp năm 2013 quy định: “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”.

1.1. Vị Trí Vai Trò Của HĐND Trong Hệ Thống Chính Quyền

Ở địa phương, HĐND là cơ quan duy nhất được thành lập bằng một cuộc bầu cử do cử tri địa phương trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Mọi quyết định của HĐND được thông qua bằng việc biểu quyết theo nguyên tắc đa số bởi vì hình thức hoạt động của HĐND chủ yếu thông qua kỳ họp toàn thể. Mỗi HĐND có một số lượng đại biểu nhất định đại diện cho nữ giới, thành phần dân tộc, tôn giáo, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân và cơ quan nhà nước khác tại địa phương. Điều này có nghĩa HĐND không đại diện cho một đảng phái, tổ chức nào mà đại diện cho toàn thể Nhân dân; thể hiện khối đại đoàn kết của toàn dân sống trong phạm vi một địa phương.

1.2. Chức Năng Nhiệm Vụ Của HĐND Huyện Theo Luật Định

HĐND huyện là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, quyết định những vấn đề của huyện trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định của pháp luật; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở huyện và việc thực hiện nghị quyết của HĐND. Ngoài ra, HĐND huyện còn có quyền căn cứ vào pháp luật để bầu, miễn nhiệm, bãi miễn các chức danh của UBND là cơ quan chấp hành của mình; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân của TAND cùng cấp cũng như có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu ra.

II. Thách Thức Trong Giám Sát HĐND Vĩnh Thạnh Nhận Diện Phân Tích

Trong thực tiễn, hoạt động giám sát của HĐND vẫn còn nhiều hạn chế, như: một số vụ việc vi phạm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương chưa được phát hiện kịp thời; thiếu kiểm tra, theo dõi, đôn đốc nên hiệu quả giám sát chưa cao,… Vì vậy, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND hiện nay còn thấp, vẫn còn biểu hiện hình thức; chưa thực hiện tốt vai trò, chức năng, chưa thực hiện đầy đủ thực quyền như luật định. Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động giám sát của HĐND huyện Vĩnh Thạnh vẫn còn một số hạn chế như: việc xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát của Thường trực HĐND, các ban HĐND thiếu sự chủ động; khả năng phát hiện các vụ việc sai phạm trong quá trình giám sát của HĐND huyện còn hạn chế; trình độ, kỹ năng giám sát của các chủ thể chưa cao; công tác “hậu giám sát” thiếu kiểm tra thường xuyên nên vẫn còn một số kiến nghị sau giám sát chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết triệt để,…

2.1. Hạn Chế Trong Xây Dựng Kế Hoạch Giám Sát HĐND

Việc xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát của Thường trực HĐND, các ban HĐND thiếu sự chủ động. Điều này dẫn đến việc lựa chọn nội dung giám sát có thể chưa sát với thực tế, chưa tập trung vào những vấn đề bức xúc, nổi cộm mà cử tri và Nhân dân quan tâm. Sự thiếu chủ động này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, như: năng lực của cán bộ tham mưu còn hạn chế, thiếu thông tin hoặc chưa nắm bắt kịp thời tình hình địa phương.

2.2. Năng Lực Phát Hiện Sai Phạm Trong Giám Sát Còn Hạn Chế

Khả năng phát hiện các vụ việc sai phạm trong quá trình giám sát của HĐND huyện còn hạn chế. Điều này có thể do trình độ, kỹ năng giám sát của các chủ thể chưa cao, chưa có kinh nghiệm trong việc thu thập, phân tích thông tin, bằng chứng để phát hiện sai phạm. Bên cạnh đó, cũng có thể do sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị liên quan trong quá trình giám sát chưa chặt chẽ, dẫn đến việc bỏ sót thông tin quan trọng.

2.3. Công Tác Hậu Giám Sát Chưa Thực Sự Hiệu Quả

Công tác “hậu giám sát” thiếu kiểm tra thường xuyên nên vẫn còn một số kiến nghị sau giám sát chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải quyết triệt để. Điều này làm giảm hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát, gây mất lòng tin của cử tri và Nhân dân đối với HĐND. Nguyên nhân có thể do thiếu cơ chế theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kiến nghị sau giám sát, hoặc do các cơ quan có thẩm quyền chưa thực sự quan tâm, coi trọng việc giải quyết kiến nghị của HĐND.

III. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Giám Sát HĐND Huyện Vĩnh Thạnh

Để khắc phục tình trạng nêu trên, yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với hoạt động của HĐND trong thời gian tới là phải nâng cao hơn nữa hiệu quả giám sát của HĐND, để HĐND thực sự là cơ quan đại diện cho quyền và lợi ích của Nhân dân trên địa bàn huyện. Cần có những giải pháp đồng bộ, từ việc nâng cao năng lực của đại biểu HĐND, đổi mới phương thức giám sát, tăng cường phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan, đến việc hoàn thiện cơ chế theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kiến nghị sau giám sát.

3.1. Nâng Cao Năng Lực Đại Biểu HĐND Về Giám Sát

Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng giám sát cho đại biểu HĐND. Nội dung tập huấn cần tập trung vào các quy định của pháp luật về giám sát, phương pháp thu thập, phân tích thông tin, kỹ năng chất vấn, tranh luận, kỹ năng xây dựng báo cáo giám sát. Mời các chuyên gia, nhà khoa học, cán bộ có kinh nghiệm tham gia giảng dạy, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn.

3.2. Đổi Mới Phương Thức Giám Sát Của HĐND

Tăng cường giám sát chuyên đề, tập trung vào những vấn đề bức xúc, nổi cộm mà cử tri và Nhân dân quan tâm. Đổi mới hình thức giám sát, kết hợp giữa giám sát trực tiếp tại cơ sở với giám sát thông qua báo cáo, văn bản. Phát huy vai trò của các ban HĐND trong việc thẩm tra các báo cáo, tờ trình của UBND và các cơ quan chuyên môn.

3.3. Tăng Cường Phối Hợp Trong Hoạt Động Giám Sát

Tăng cường phối hợp giữa HĐND với UBND, các cơ quan chuyên môn, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong quá trình giám sát. Xây dựng quy chế phối hợp cụ thể, rõ ràng, quy định trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong việc cung cấp thông tin, giải quyết kiến nghị sau giám sát. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc phản biện xã hội, góp ý kiến cho hoạt động giám sát của HĐND.

IV. Ứng Dụng CNTT Nâng Cao Hiệu Quả Giám Sát HĐND Vĩnh Thạnh

Ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động giám sát của HĐND là một giải pháp quan trọng để nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và tiết kiệm chi phí. CNTT có thể được ứng dụng trong nhiều khâu của quy trình giám sát, từ việc thu thập, xử lý thông tin, đến việc theo dõi, đôn đốc việc thực hiện kiến nghị sau giám sát.

4.1. Xây Dựng Hệ Thống Thông Tin Giám Sát Trực Tuyến

Xây dựng hệ thống thông tin giám sát trực tuyến, cho phép đại biểu HĐND và cử tri dễ dàng tiếp cận thông tin về các hoạt động giám sát, các báo cáo, nghị quyết của HĐND. Hệ thống này cũng có thể được sử dụng để thu thập ý kiến phản hồi từ cử tri về các vấn đề giám sát.

4.2. Sử Dụng Phần Mềm Quản Lý Văn Bản Và Hồ Sơ Giám Sát

Sử dụng phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ giám sát để số hóa các tài liệu liên quan đến hoạt động giám sát, giúp đại biểu HĐND dễ dàng tìm kiếm, tra cứu thông tin. Phần mềm này cũng có thể được sử dụng để theo dõi tiến độ giải quyết kiến nghị sau giám sát.

V. Đánh Giá Hiệu Quả Giám Sát HĐND Tiêu Chí Phương Pháp Đo Lường

Để đánh giá hiệu quả giám sát của HĐND một cách khách quan, chính xác, cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cụ thể, rõ ràng và áp dụng các phương pháp đo lường phù hợp. Các tiêu chí đánh giá có thể bao gồm: số lượng các vụ việc sai phạm được phát hiện, mức độ giải quyết các kiến nghị sau giám sát, mức độ hài lòng của cử tri đối với hoạt động giám sát của HĐND.

5.1. Xây Dựng Bộ Tiêu Chí Đánh Giá Hiệu Quả Giám Sát

Bộ tiêu chí đánh giá cần được xây dựng dựa trên các quy định của pháp luật về giám sát, các mục tiêu, nhiệm vụ của HĐND và tình hình thực tế của địa phương. Các tiêu chí cần được lượng hóa để có thể đo lường một cách khách quan.

5.2. Áp Dụng Các Phương Pháp Đo Lường Phù Hợp

Sử dụng các phương pháp đo lường định lượng và định tính để đánh giá hiệu quả giám sát. Các phương pháp định lượng có thể bao gồm: thống kê số liệu, phân tích dữ liệu. Các phương pháp định tính có thể bao gồm: phỏng vấn, khảo sát, đánh giá của chuyên gia.

VI. Kết Luận Tầm Quan Trọng Của Giám Sát HĐND Vĩnh Thạnh

Nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND huyện Vĩnh Thạnh là một nhiệm vụ quan trọng, góp phần xây dựng chính quyền địa phương trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Để thực hiện thành công nhiệm vụ này, cần có sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan, đơn vị liên quan và sự tham gia tích cực của cử tri và Nhân dân.

6.1. Vai Trò Của Giám Sát Trong Phát Triển Kinh Tế Xã Hội

Hoạt động giám sát hiệu quả giúp phát hiện và ngăn chặn các hành vi sai phạm, tham nhũng, lãng phí, góp phần bảo vệ tài sản của Nhà nước và quyền lợi của Nhân dân. Đồng thời, giám sát cũng giúp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.

6.2. Định Hướng Phát Triển Giám Sát HĐND Trong Tương Lai

Tiếp tục đổi mới phương thức giám sát, tăng cường ứng dụng CNTT, nâng cao năng lực của đại biểu HĐND và tăng cường sự tham gia của Nhân dân vào hoạt động giám sát. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa HĐND với các cơ quan, đơn vị liên quan để đảm bảo hiệu quả giám sát.

06/06/2025
Hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân huyện vĩnh thạnh tỉnh bình định

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu Phần nội dung: gồm 3 chƣơng + Chƣơng 1: Lý luận về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện + Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định + Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Kết luận 8 Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Những vấn đề cơ bản về Hội đồng nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm Sau khi nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, tổ chức chính quyền địa phƣơng trên cả nƣớc đƣợc thực hiện theo Sắc lệnh số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945 đối với khu vực nông thôn và Sắc lệnh số 77 ngày 21 tháng 12 năm 1945 đối với khu vực đô thị.

Có thể nói, HĐND đƣợc thành lập từ thời điểm này. Theo hai sắc lệnh này, chính quyền địa phƣơng có bốn cấp: Cấp kỳ, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, tuy nhiên, chỉ có cấp tỉnh và cấp xã là hai cấp chính quyền hoàn chỉnh có HĐND và Ủy ban hành chính. Vào thời điểm này, nhiệm kỳ của HĐND chỉ 2 năm, đƣợc thành lập ở cấp xã và tỉnh bằng hình thức bầu trực tiếp của Nhân dân. Qua gần 78 năm xây dựng, phát triển, trên cơ sở các bản Hiến pháp 1946, 1980, 1992 và sửa đổi bổ sung năm 2001, bản chất cũng nhƣ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của mô hình tổ chức HĐND và UBND theo tinh thần sắc lệnh trên đây cơ bản vẫn đƣợc giữ nguyên mặc dù hệ thống pháp luật về chính quyền địa phƣơng đã có một số thay đổi về cơ chế tổ chức và tên gọi.

Nhƣ vậy, chúng ta có thể hiểu HĐND nhƣ chiếc cầu nối giữa Nhân dân và nhà nƣớc, mối quan hệ hai chiều đƣợc dung hòa giữa yếu tố quyền lực nhà nƣớc và yếu tố ý chí của Nhân dân, tạo điều kiện cho Nhân dân làm chủ. Có thể nói, HĐND đại diện cho tinh thần, trí tuệ, sức mạnh tập thể Nhân dân địa phƣơng, là đại diện tiêu biểu nhất cho tiếng nói của các tầng lớp Nhân dân trong xã hội, đƣợc lựa chọn từ các đại biểu ƣu tú của các tầng lớp Nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, nông dân, trí thức,. Vì thế, HĐND là tổ chức chính quyền gần gũi Nhân dân nhất, hiểu rõ yêu cầu, tâm tƣ, nguyện 9 vọng của Nhân dân, hiểu rõ đƣợc những thuận lợi, khó khăn của địa phƣơng, do đó, có thể đƣa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế và nguyện vọng của Nhân dân, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, an ninh trật tự của địa phƣơng. Khoản 1, Điều 113 Hiến pháp năm 2013 quy định: “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phƣơng bầu ra, chịu trách nhiệm trƣớc Nhân dân địa phƣơng và cơ quan nhà nƣớc cấp trên”.

Nhƣ vậy, từ những quan điểm của Nhà nƣớc ta qua các giai đoạn lịch sử đều cho thấy một điểm chung về khái niệm của HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, giúp phát huy dân chủ, do Nhân dân địa phƣơng bầu ra và chịu trách nhiệm trƣớc Nhân dân về hoạt động của mình. Theo quy định tại Điều 4 của Luật Tổ chức chính quyền địa phƣơng năm 2015, chính quyền địa phƣơng gồm HĐND và UBND, đƣợc tổ chức ở các đơn vị hành chính của Nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm: Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng; cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ƣơng và cấp xã, phƣờng, thị trấn. HĐND huyện là một bộ phận cấu thành của chính quyền địa phƣơng ở huyện. HĐND huyện “gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở huyện bầu ra”.

HĐND huyện là cơ quan quyền lực nhà nƣớc, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, có nhiệm vụ “tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn huyện”. Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân cấp huyện - Thứ nhất, HĐND huyện là cơ quan đại diện của Nhân dân, do Nhân dân ở huyện bầu ra Có thể nói, ở địa phƣơng, HĐND là cơ quan duy nhất đƣợc thành lập bằng một cuộc bầu cử do cử tri địa phƣơng trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc 10 phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Mọi quyết định của HĐND đƣợc thông qua bằng việc biểu quyết theo nguyên tắc đa số bởi vì hình thức hoạt động của HĐND chủ yếu thông qua kỳ họp toàn thể. Đặc điểm thể hiện rõ nét nhất tính chất đại diện của HĐND về mặt hình thức là ở vấn đề cơ cấu đại biểu trong Hội đồng.

Mỗi HĐND có một số lƣợng đại biểu nhất định đại diện cho nữ giới, thành phần dân tộc, tôn giáo, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lƣợng vũ trang nhân dân và cơ quan nhà nƣớc khác tại địa phƣơng. Điều này có nghĩa HĐND không đại diện cho một đảng phái, tổ chức nào mà đại diện cho toàn thể Nhân dân; thể hiện khối đại đoàn kết của toàn dân sống trong phạm vi một địa phƣơng. - Thứ hai, HĐND huyện là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, quyết định những vấn đề của huyện trong phạm vi đƣợc phân quyền, phân cấp theo quy định của pháp luật; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở huyện và việc thực hiện nghị quyết của HĐND. Ngoài ra, HĐND huyện còn có quyền căn cứ vào pháp luật để bầu, miễn nhiệm, bãi miễn các chức danh của UBND là cơ quan chấp hành của mình; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân của TAND cùng cấp cũng nhƣ có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu ra; căn cứ vào Hiến pháp và pháp luật ra nghị quyết để triển khai các mặt công tác ở địa phƣơng.

Nhƣ vậy, tính chất quyền lực của HĐND đƣợc thể hiện trên nhiều phƣơng diện, là cơ quan quyền lực nhà nƣớc có quyền ban hành nghị quyết để quyết định nhiều vấn đề quan trọng ở địa phƣơng. Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp huyện Xuất phát từ vị trí, vai trò của HĐND trong hoạt động của tổ chức chính quyền địa phƣơng mà pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ của HĐND. Có thể hiểu chức năng của HĐND là những phƣơng diện hoạt động chủ yếu của HĐND nhằm thực hiện vai trò, nhiệm vụ của HĐND. Thứ nhất, chức năng quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương 11 Chức năng quyết định của HĐND huyện đƣợc ghi nhận nhƣ sau: - Ban hành nghị quyết và quyết định biện pháp thực hiện trong tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, xây dựng chính quyền theo quy định của pháp luật.

- Thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và hằng năm của huyện, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện trƣớc khi trình UBND tỉnh phê duyệt. - Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phƣơng và phân bổ dự toán ngân sách huyện; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phƣơng trong trƣờng hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phƣơng. Quyết định chủ trƣơng đầu tƣ chƣơng trình, dự án của huyện theo quy định của pháp luật. - Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực trên địa bàn huyện trong phạm vi đƣợc phân quyền.

- Quyết định biện pháp quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nƣớc, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác; biện pháp bảo vệ và cải thiện môi trƣờng, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão, lụt ở địa phƣơng theo quy định của pháp luật. Thứ hai, chức năng giám sát HĐND huyện thực hiện chức năng giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phƣơng, việc thực hiện nghị quyết của HĐND huyện; giám sát hoạt động của Thƣờng trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp, ban của HĐND cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và văn bản của HĐND cấp xã. Chức năng giám sát của HĐND bao giờ cũng gắn liền với chức năng quyết định những vấn đề cơ bản về kinh tế, xã hội của HĐND. Thực hiện tốt chức năng này không những cho phép HĐND kiểm tra, đánh giá hoạt động 12 của các cơ quan nhà nƣớc trong việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, các nghị quyết của HĐND mà còn cho phép HĐND phát hiện đƣợc sự không phù hợp, thiếu thực tế của các nghị quyết của HĐND để sửa đổi, bổ sung.

Kết quả giám sát sẽ là căn cứ để HĐND thực hiện quyền bãi nhiệm, miễn nhiệm các chức vụ chủ chốt của HĐND, UBND cùng cấp hoặc sẽ là cơ sở để HĐND bãi bỏ những quyết định sai trái của UBND cùng cấp, những nghị quyết sai trái của HĐND cấp dƣới trực tiếp. Nhìn chung, HĐND có hai chức năng cơ bản: Quyết định và giám sát. Trong đó, HĐND là cơ quan đại diện cho Nhà nƣớc, nhân danh Nhà nƣớc để thực thi quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, triển khai, tổ chức thực hiện đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nƣớc tới trực tiếp ngƣời dân. Vì vậy, để hệ thống chính trị địa phƣơng hoạt động hiệu quả thì phải có một chính quyền địa phƣơng mạnh, trong đó HĐND phải là yếu tố cốt lõi trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, đề ra những quyết sách phát triển địa phƣơng và chịu trách nhiệm giám sát những quyết định đó trƣớc cấp trên và trƣớc Nhân dân.

Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện 1. Khái niệm Theo từ điển Hán - Việt của Đào Duy Anh, giám sát đƣợc hiểu là “xem xét và đàn hặc” [1, tr. Theo Từ điển Tiếng Việt, cách hiểu chung nhất, giám sát là “theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ” [40, tr. Dƣới góc độ pháp lý, có thể hiểu giám sát là một chức năng luật định, tức là gắn với quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền.

Chức năng đƣợc bảo đảm bởi một số hình thức hoạt động và công cụ đặc thù của các cơ quan công quyền đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định" tập trung vào việc cải thiện quy trình giám sát của Hội đồng nhân dân, nhằm nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý nhà nước. Các điểm chính của tài liệu bao gồm việc đề xuất các phương pháp giám sát hiệu quả, cách thức tăng cường sự tham gia của cộng đồng và các giải pháp cụ thể để cải thiện chất lượng giám sát. Những lợi ích mà tài liệu mang lại cho độc giả bao gồm việc cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức hoạt động của Hội đồng nhân dân, cũng như những chiến lược có thể áp dụng để nâng cao hiệu quả công việc của họ.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các mô hình quản lý chất lượng và giám sát, bạn có thể tham khảo tài liệu Đánh giá hiệu quả áp dụng mô hình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn iso 9001 2000 tại các ubnd cấp xã phường ở tp hcm. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý chất lượng trong các cơ quan nhà nước, từ đó có thể liên hệ và áp dụng những kiến thức này vào thực tiễn giám sát tại địa phương.