Chương I : Những van dé lý luận chung về giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Chương II: Quyền và nghĩa vụ của Điều tra viên và Thi tưởng Cơ quan điều tra. Chương III: Các giải pháp hoàn thiện chế định pháp lý về Điều tra viên và Thủ trưởng Cơ quan điều tra. CHUONG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VE GIAI DOAN DIEU TRA VU ÁN HÌNH SỰ 1.
Vị trí, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Hiện nay, trong khoa học pháp lý còn có nhiều quan điểm khác nhau trong việc phân định các giai đoạn tố tụng hình sự. Nhưng nhìn chung, cách phân định các giai đoạn tố tung của các quan điểm khác nhau đều thống nhất ở chỗ quá trình tố tụng hình sự theo Bộ luật TTHS Việt Nam bao gồm các giai đoạn chính sau đây : - Khởi tố vụ án hình sự. - Điều tra vụ án hình sự.
- Truy tố người phạm tội. - Xét xử vụ án hình sự. - Thi hành ban án và quyết định của Toà án. Các giai đoạn tố tụng có mối liên hệ chặt chế với nhau, được diễn ra liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian với những hành vi tố tụng khác nhau.
Giai đoạn tố tụng này kết thúc, giai đoạn tố tung sau bắt đầu. Giai đoạn tố tung trước là cơ sở cho giai đoạn tố tụng sau. Ngược lại, giai đoạn tố tụng sau kiểm nghiệm lại kết quả của giai đoạn tố tụng trước. Mỗi giai đoạn tố tụng thực hiện nhiệm vụ tố tụng riêng và chứa đựng các đặc điểm riêng biệt.
Tất cả các giai đoạn tố tụng hợp thành quá trình tố tụng thống nhất và có mối quan hệ khăng khít với nhau. Như vậy, xét về vi trí, giai đoạn điều tra vu án hình sự là giai đoạn thứ hai, sau giai đoạn khởi tố vụ án hình sự. Giai đoạn điều tra vụ án hình sự được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố bị can hoặc ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án. Chủ thể tiến hành trong giai đoạn này là DTV theo sự phân công và dưới sự chỉ đạo của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQDT.
Ngoài các CQDT chuyên trách được tổ chức trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, Viện kiểm sát 6 nhan dan tôi cao, pháp luat TTHS hiện hành còn trao quyên hạn tiến hành mot số hoạt động điều tra cho Bộ đội Biên phòng, Hai quan, Kiếm lâm. lực lượng Cảnh sát biến và các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quan đội nhân dân (Điều 111 Bộ luật TTHS; các điều 19 - 25 Pháp lệnh TCDTHS). Tuy nhiên, thấm quyền và phạm vi trách nhiệm tố tụng hình sự của các cơ quan này không giống nhau. Pháp luật căn cứ vào vị trí, khả năng và yêu câu của cuộc dau tranh phòng chống tội phạm dé giao nhiệm vụ điều tra cho từng cơ quan một cách có lựa chọn.
Xem Xét trong mối tương quan của các giai đoạn tố tụng thì điều tra vụ án hình sự là giai đoạn bắt buộc, có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình tố tụng thế hiện qua các nhiệm vụ mà giai đoạn này thực hiện. Từ các quy định của pháp luật cũng như thực tiên hoạt động, giai đoạn điều tra vụ án hình sự có các nhiệm vụ sau : - Thứ nhất : Xác định tội phạm và người phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tô. Xác định tội phạm có nghĩa là phải xác định xem có hay không có việc phạm tội. Nếu có thì đó là tội gì, được quy định trong điều nào, khoán nào cua Bộ luật Hình sự, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm và các tình tiết khác của tội phạm.
Khi đã xác định được tội phạm, CQDT phải làm rõ ai là người phạm tội. Nếu là vụ án có đồng phạm thì phải xác định tất cả những người đồng phan cùng với vai trò của từng người. Xác định tội phạm và người phạm tội là phải xác định được tất cả các tình tiết, yếu tố tương ứng với 4 yếu tố cấu thành tội phạm. Đó chính là phạm vi các van dé phải chứng minh trong vụ án hình sự được quy định tại điều 63 Bộ luật TTHS.
Kết thúc giai đoạn điều tra, nếu CQDT có day đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và người phạm tội thì chuyển hồ sơ cùng kết luận điều tra vụ án hình sự sang VKS, đề nghị truy tố trước Toà án nhằm trừng trị họ, cải tạo họ thành người có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời nhằm giáo dục họ và người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm. | Thứ hai : Phát hiện và khắc phục nguyên nhân và diéu kiện phạm tội, yêu cau các cơ quan và t6 chức hữm quan áp dung các biện pháp khắc phục và ngăn ngu. Phát hiện nguyên nhân và điều kiện phạm tội, có nghĩa là đã tra lời được câu hỏi: Tại sao bị can đã phạm tội, điêu kiện và hoàn cảnh nào đã làm cho tôi phạm thực hiện ở chính vị trí đó, vào thời gian đó và bảng phương pháp. Để trả lời các câu hỏi trên, ĐTV phải làm rõ được các nhóm tình tiết sau : - Những điều kiện.
hoàn cảnh nào đã dẫn tới việc hình thành đạo đức, nhân cách xâu của bị can, làm xuất hiện những quan điểm tiêu cực, chống đối xã hội của bị can. - Những cơ hoi, lý do phạm tội đã khiến cho những quan điểm, thái độ chống đối xã hội của bị can biến thành ý định phạm tội. - Những điều kiện khách quan tại địa điểm phạm tội đã tạo thuận lợi cho bị can thực hiện có kết quả ý định phạm tội. Sau khi đã làm rõ được nguyên nhân và điều kiện phạm tội, DTV phái yêu cầu các cơ quan, tổ chức áp dụng các biên pháp khắc phục và ngăn ngừa theo quy định tại Điều 27 Bộ luật TTHS năm 2003.
Tuy nhiên, bên cạnh việc yêu cầu đó, CQDT và DTV van phải thực hiện ngay những biện pháp cấp bách loại trừ nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đồng thời phái tiến hành những biện pháp phòng ngừa khác như tuyên truyền phổ biến các phương pháp, quy luật, thủ đoạn của tội phạm, kinh nghiệm trong việc phòng ngừa tội phạm. Thứ ba : Xác định tích chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, dong thời tiến hành các biện pháp dam bao cho việc bồi thường thiệt hại. Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vị phạm tội gây ra là một trong những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự (Điều 63 Bộ luật TTHS năm 2003). Việc xác định tính chat và mức độ thiệt hạt do tội phạm gây ra có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiếm của hành vi phạm 10: trong việc định tội danh và xác định mức độ bồi thường của Toà án sau này.
Những thiệt hai cần xác định bao gồm : Thiệt hai do tài san bị xâm phạm (D613 - Bộ luật Dân sự), thiệt hại do tính mạng bị xâm pham (D614 Bộ luật Dan sự), và thiệt hai do danh dự. uy tín bị xam pham () 615 - Bộ luật Dan sự). Sau khi đã xác định được có thiệt hại xảy va. CQDT phải thực hiện các biện pháp ngăn chán việc tấu tán, che giấu tai san cua bị can nhất là đối với các vụ án ve tham nhũng và các vu án khác theo những tội danh ma Bộ luật hình sự quy định hình phạt tịch thu tài sản hoặc phải bồi thường thiệt hại với số lượng lớn.
Trong nhiều trường hợp, do tính chất phức tạp của vụ án, mức độ thiệt hai chi được xác định day đủ vào giai đoạn cuối của cuộc điều tra. Song những biện pháp dam bao việc bồi thường phải được thực hiện kip thời ngay sau khi có thông tin về thiệt hại. Tính kịp thời trong việc áp dụng các biện pháp đó là điệu kiện quan trọng dam bao hiệu quả của việc bồi thường, thi hành án sau này. Nhiệm vụ bao dam cho việc bồi thường thiệt hại được CQDT thực hiện băng các biện pháp: Truy tìm và thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, tiến hành các biện pháp như kê biên tài sản, khám xét, thu giữ, tạm giữ để đám bảo cho việc bồi thường có kết quả.
Thứ tư : Thông qua công tác điều tra tội phạm, CQĐT đã góp phan vào việc giáo đục công dán ý thức chấp hành pháp luật và các quy tắc cua đời sống Xã hội chủ nụhĩa. Nhiệm vụ của TTHS nói chung, nhiệm vụ giáo dục công dân ý thức tuân thủ pháp luật nói riêng được thực hiện ở tất ca các giai đoạn của TTHS. Điêu tra vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên thực hiện nhiệm vụ của TTHS nói chung cũng như nhiệm vụ giáo dục công dân nói riêng. Trong quá trình điều tra vụ án, ĐTV phải tiếp xúc với nhiều người tham gia tố tụng khác nhau.
Nhiệm vụ cua DTV là đảm bao cho tất cả mọi người khi tiếp xúc với hoạt động điều tra đều hiểu được rằng không nên vi phạm các quy định của pháp luật và các đòi hỏi của quy tác đời sống XHCN. Bất kỳ sự vi phạm nào cũng đều có thể là nguồn gốc dẫn tới việc phạm tội và không tôi phạm nào thoát khỏi sự trừng trị của pháp luật. Cũng trong giai đoạn điều tra. DTV đã tuyên truyền phổ biến giáo duc pha: luật cho công dân, nang cao \ thức và van hoá pháp luật của ho.
9 Trong quá trình dieu tra vụ án hình sự, CQDT phải tiến hành các hoại dong điều tra tố tụng theo đúng trình tự va thu tục mà Bộ luật TTHS đã quy định. Tuy nhiên, trước phương thức và thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt của tội phạm, nếu chỉ tiến hành các hoạt động điều tra tố tụng một cách đơn thuần về trình tự va thủ tục TTHS thi công tác điều tra sẽ gap nhiều khó khan trong thu thập chứng cứ, Vì vậy, trong khi tiến hành điều tra vụ án, DTV phải biết sử dụng các kiến thức về nghiệp vụ điều tra. Có nghĩa là phải sử dụng các chiến thuật tiến hành các hoạt động điều tra trong từng tình huống cụ thé trên cơ sở trình tự và thủ tuc TTHS. Bên cạnh việc điều tra công khai theo trình tự.
thủ tục TTHS, để công tác điều tra có hiệu qua, CQDT còn phải sử dụng các biện pháp trinh sát nghiệp vụ trong việc thu thập thông tin tài liệu về vụ việc phạm tội.