Chương 1: Tổng quan về hoạt động cho vay KHCN tại Ngân hàng Thương mại. Chương 2: Thực trạng phát triển tín dụng cá nhân tại N H TMCP Quốc tế Việt Nam chi nhánh Hai Bà Trưng giai đoạn 2017- 2019. Chương 3: Đề xuất giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả cho vay KHCN của ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam chỉ nhánh Hai Bà Trưng. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một bộ phận lớn nhất trong hệ thống các trung gian tài chính.
Mục đích của NHTM với vai trò trung gian tài chính là huy động tiền nhàn rỗi từ những chủ thể thừa, vốn và cho vay đối với những chủ thể thiếu vốn. Qua đó, nguồn vốn được luân chuyển hiệu quả trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Ở Pháp, NHTM được định nghĩa như sau: “NHTM là những x í nghiệp thường xuyên nhận của công chủng dưới hình thức tiền gửi hay hình thức khác và họ dung vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính ” (Giáo trình nghiệp vụ ngân hàng thương mại.) Trong khi đó, ở Việt Nam thì NHTM được định nghĩa theo Luật số: 47/2010/QH12 năm 2010 về các tổ chức tín dụng như sau: “N H TM là tổ chức tín dụng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan nhằm mục tiêu lợi nhuận Như vậy, có thể thấy NHTM là một tổ chức tín dụng được thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ Ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận. Vai trò của ngăn hàng thương mại - V a i t r ò t r u n g g i a n t à i c h í n h Ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn.
Qua đó, NHTM huy động nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế bằng nhiều hình thức và sản phẩm. Nguồn vốn này sau đó được ngân hàng thương mại cung cấp tín dụng tới các chủ thế thiếu 7 vốn trong nền kinh tế. Với chức năng này, Ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay vừa đóng vai là người cho vay. Các dòng vốn qua NHTM được chuyển đổi về tính chất và đảm bảo sự lưu thông hiệu quả tới các chủ thể của nền kinh tế, qua đó, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia.
- V a i t r ò t r u n g g ia n t h a n h t o á n Ngân hàng thương mại làm trung gian thanh toán khi thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích trừ từ tài khoản tiền gửi thanh toán của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng. Ngân hàng thương mại đóng vai trò là người thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi vì họ thực hiện các lệnh thu chi của khách hàng. Vai trò trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Ngân hàng thương mại cung ứng cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán thuận lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu thẻ rút tiền thẻ thanh toán.
Đối với ngân hàng thương mại, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu phí thanh toán, tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng. Đối với nền kinh tế, chức năng này góp phần giúp cho hệ thống lưu thông tiền tệ quốc gia được phát triển hiệu quả. - V a i t r ò t r u n g g i a n t r u y ề n t ả i c h í n h s á c h t iề n t ệ Chính sách tiền tệ quốc gia do ngân hàng trung ương chủ trì xây dựng và điều hành thông qua việc sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ như lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường m ở. Đối tượng áp dụng các chính sách tiền tệ chính là hệ thống NHTM.
Thông qua việc thực thi các 8 chính sách, hệ thống NHTM đóng vai các tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế - xã hội. Đặc điêm của ngân hàng thương mại * v ề cấu trúc tài chính và tài sản: là doanh nghiệp có quy mô lớn, hệ sổ nợ rất cao và cấu trúc tài sản đặc biệt Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp có quy mô lớn trên cả giác độ vốn chủ sở hữu và tổng tài sản. Mạng lưới các chi nhánh Ngân hàng thường rất lớn và phân tán rộng về địa lý. cấ u trúc tài sản của Ngân hàng thương mại đặc biệt hơn so với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh khác là ở tỷ trọng tài sản tài chính.
Trong khi quy mô về vốn chủ sở hữu đã rất lớn, nguồn vốn của Ngân hàng thương mại lại chủ yếu là nợ được huy động từ bên ngoài Ngân hàng, c ấ u trúc đặc biệt này phản ánh vai trò trung gian tài chính của NHTM. * Hoạt động của Ngân hàng thương mại luôn chứa đựng nhiều rủi ro và chịu sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý. NHTM là một doanh nghiệp có sổ lượng sản phẩm đa dạng, có phạm vi hoạt động rộng lớn, đáp ứng đa dạng các nhu cầu tài chính của khách hàng. Đồng thời với vai trò là một tổ chức trung gian tài chính, các dòng tiền đi qua NHTM có sự chuyển đổi về tính chất như quy mô, kỳ hạn, đơn vị tiền tệ.
Do đó, NHTM đối diện với rất nhiều rủi ro, trong đó có những loại rủi ro đặc thù và rủi ro chung. Có thể kể đến một số rủi ro chính trong hoạt động kinh doanh của NHTM như: - Rủi ro tài chính: Rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản. - Rủi ro phi tài chính: Rủi ro hoạt động, rủi ro danh tiếng, rủi ro pháp lý. 9 Một ví dụ điển hình là khi ngân hàng huy động vốn ngắn hạn với lãi suất thấp để cho vay với thời hạn dài hon và lãi suất cố định cao hon để thu được lợi nhuận.
Ngân hàng sẽ gặp rủi ro lãi suất khi lãi suất thị trường tăng, lãi suất huy động tăng lên trong khi lãi suất cho vay cố định. Do đó, lợi nhuận mà ngân hàng thu được sẽ giảm và thậm chí là bị lỗ, không đáp ứng được kỳ vọng của ngân hàng. Khi khoản vay đến hạn mà người vay không trả được nợ hoặc trả không đủ sẽ làm cho ngân hàng lâm vào tình trạng rủi ro tín dụng. Trường hợp khác, ngân hàng phải trả tiền cho khách hàng khi đáo hạn nhưng ngân hàng lại không có đủ tiền để thanh toán do các khoản cho vay hoặc đầu tư chưa thu hồi được và ngân hàng cũng không thể vay tiền ở các thị trường tài chính khác dẫn đến việc đối mặt với rủi ro thanh khoản.
Các NHTM luôn chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý như: Chính phủ, cơ quan thuế, NHNN, cơ quan quản lý trên địa bàn hoạt động. Điều này là do đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ, nhạy cảm với sự biến động trên thị trường. Hơn thế nữa, trong xu thế toàn cầu hóa, rủi ro tăng, một ngân hàng gặp rủi ro sẽ ảnh hưởng tới các chủ thế khác trong nền kinh tế, gây ra hiệu ứng Domino; hay nói cách khác, hoạt động của ngân hàng mang tính hệ thống, là xương sổng của toàn bộ nền kinh tế. Do vậy, đòi hỏi các cơ quan Nhà nước phải có các biện pháp quản lý nghiệm ngặt nhằm mục đích các chính sách tiền tệ quốc gia được đảm bảo thực hiện, hệ thống tài chính ngân hàng được đảm bảo an toàn, quyền lợi của người gửi tiền và người đầu tư được bảo vệ; từ đó tạo ra các dịch vụ toàn diện cho khách hàng.
Đồng thời, các ngân hàng có the hỗ trợ nhau khi đứng trước nguy cơ rủi ro, và luôn phải duy trì ràng buộc theo hệ thống trong quá trình hoạt động của mình cả về mặt tổ chưc về mặt kỹ thuật. * Tính liên kết và ổn định của hệ thống Ngân hàng 10 Hệ thống Ngân hàng có tính phụ thuộc lẫn nhau rất lớn. Hơn bất cứ ngành kinh doanh nào trong nền kinh tế, rủi ro trong hoạt động Ngân hàng có tính lan toả rất nhanh. Hoạt động như một hệ thống các mắt xích liên kết chặt chẽ, chỉ cần một ngân hàng thương mại, dù yếu và nhỏ nhất, gặp khó khăn trong hoạt động, đặc biệt là khó khăn về thanh khoản, là có thể dẫn đến rủi ro toàn hệ thống.
Thực tiễn đã cho thấy, thanh khoản được ví như hoi thở của sự sống của hoạt động ngân hàng thương mại. Mọi rủi ro, tổn thất trong hoạt động của ngân hàng thương mại đều có thể dẫn đến hậu quả cuối cùng là Ngân hàng mất khả năng thanh toán rồi phá sản. Bên cạnh đó, hệ thống Ngân hàng rất nhạy cảm với mọi biến động về kinh tế, kỹ thuật, chính trị và xã hội. Những biến động này thường có tác động gần như tức thời đến hoạt động của thị trường tài chính.
Theo đó, nó gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của hệ thống Ngân hàng. Do vậy, việc nắm bắt được cơ chế hoạt động, ảnh hưởng lẫn nhau của các phần tử trong hệ thống tài chính là một trong những vấn đề cổt yếu, quyết định thành bại. Các hoạt động kinh doanh cơ bản của ngân hàng thương mại Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà, cung cấp vốn cho nền kinh tế. Với sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay, hoạt động ngân hàng đã có những bước tiến rất nhanh, đa dạng và phong phú hơn song ngân hàng vẫn duy trì các nghiệp vụ cơ bản sau: H o ạ t đ ộ n g h u y đ ộ n g v ố n Đây là hoạt động cơ bản, quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng.vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như huy động dưới hình thức tiền gửi, đi vay, phát hành giấy tờ có giá.
Mặt khác trên cơ sở nguồn vổn huy động được, ngân hàng tiến hành cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, cho các mục tiêu phát triển kinh 11 tế của địa phương và cả nước.