Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÔNG TÁC AN TOÀN, VỆ SINH LAO ĐỘNG 1. Cơ sở khoa học của công tác an toàn, vệ sinh lao động 1. Hệ thống quản lý nhà nước về An toàn – Vệ sinh lao động Theo quy định tại Điều 82 của Luật An toàn và Vệ sinh lao động, nội dung liên quan đến quản lý nhà nước về An toàn và Vệ sinh lao động được cụ thể như sau: “(1) Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động, xây dựng, ban hành hoặc công bố tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động, quy chuẩn kỹ thuật địa phương về an toàn, vệ sinh lao động theo thẩm quyền được phân công quản lý. (2) Tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
(3) Theo dõi, thống kê, cung cấp thông tin về TNLĐ, BNN, xây dựng chương trình, hồ sơ quốc gia an toàn, vệ sinh lao động. (4) Quản lý tổ chức và hoạt động của tổ chức dịch vụ trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động. (5) Tổ chức và tiến hành nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ về an toàn, vệ sinh lao động. (6) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.
(7) Bồi dưỡng, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động. (8) Hợp tác quốc tế về an toàn, vệ sinh lao động.” [15] Hệ thống ATVSLĐ đã được áp dụng và tăng cường tại các cấp chính quyền địa phương, tổ chức, cơ quan và doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh. Đáng chú ý, tháng hành động về ATVSLĐ và PCCC (trước đây là Tuần lễ quốc gia về ATVSLĐ-PCCN) đã diễn ra từ năm 1999 tại các tỉnh thành trên toàn quốc, với các chủ đề đa dạng. Hiện nay, doanh nghiệp và 7 cơ sở sản xuất và kinh doanh đã thể hiện nâng cao nhận thức và tăng cường trách nhiệm trong việc quản lý làm việc và môi trường làm việc.
Họ đã nâng cao việc tự kiểm tra và khắc phục những thiếu sót cũng như vấn đề tồn tại liên quan đến ATVSLĐ và PCCC. Cùng với đó, NLĐ đã thể hiện thái độ tăng cường tính tích cực bằng cách tuân thủ pháp luật về ATVSLĐ và PCCC. Kết quả là tần suất các TNLĐ đang có dấu hiệu giảm. Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh lao động ở cấp Trung ương, địa phương Nguồn: [4] 1.
Tình hình tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Mọi năm, LĐTBXH đưa ra báo cáo về tình hình TNLĐ theo quy định. Trong năm 2022, trên toàn quốc ghi nhận 7.718 vụ TNLĐ, tăng thêm 1.214 vụ so với năm 2021, tương ứng với tỷ lệ tăng 18,66%. Số lượng người bị nạn trong các vụ TNLĐ là 7.923 người, tăng 1.265 người, tương đương tăng 18,99% so với năm 2021. Bảng thống kê tình hình tai nạn lao động trong 5 năm, từ năm 2018 đến năm 2022 Nguồn: [12] 9 Theo thống kê trong giai đoạn từ 2018 đến 2022 (theo Bảng 1.1), có xu hướng giảm dần số người tử vong và số vụ có người tử vong do TNLĐ qua các năm, kể từ khi Luật An toàn và Vệ sinh lao động có hiệu lực.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, số người bị TNLĐ trong nhóm lao động nữ lại tăng dần. Sự biểu hiện này chứng tỏ việc phát triển và gia tăng số lượng doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp nhẹ, góp phần làm tăng cường việc sử dụng lao động nữ so với những năm trước đó. Thực tế làm nổi bật vấn đề đáng quan tâm, vì lao động nữ thường có tình trạng sức khỏe yếu hơn so với lao động nam, và do đó có nguy cơ bị TNLĐ tăng cao hơn. Thực trạng công tác an toàn vệ sinh lao động trong ngành xây dựng ở Việt Nam Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, lĩnh vực xây dựng cũng đạt được những bước tiến đáng kể.
Trên toàn quốc, đã tiến hành phát triển các khu đô thị mới, khu công nghiệp, khu nhà ở, nhà máy và đặc biệt là các tòa nhà cao tầng tại các đô thị lớn. Việc kết hợp trình độ thi công xây dựng và áp dụng công nghệ hiện đại đã đóng góp tích cực vào quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, song song với những thành tựu, ngành xây dựng cũng mang trong mình rủi ro cao liên quan đến TNLĐ. Thực tế đã chứng kiến nhiều vụ TNLĐ nghiêm trọng xảy ra.
Các tình huống này mang đến hậu quả nghiêm trọng cho NLĐ đồng thời gánh vác trách nhiệm đối với người thân và gia đình của họ, ảnh hưởng đồng thời đến cả xã hội. Điều kiện lao động trong ngành xây dựng gây ảnh hưởng, khó khăn bất cập đến công tác an toàn vệ sinh lao động Việc sắp xếp bố trí khu vực thi công có thể có tác động tiêu cực đối với ATVSLĐ. Đặc biệt, trong những môi trường thi công chật hẹp, thường gây ra các TNLĐ trên các công trường xây dựng. Chủ đầu tư thường cố gắng tận dụng diện tích xây dựng tối đa, dẫn đến việc giảm bớt khoảng trống cần thiết.
Điều này có thể gây ra các tình huống nguy hiểm như vật rơi, va chạm, ảnh 10 hưởng đến an toàn của công nhân, máy móc, thiết bị và phương tiện vận chuyển vật liệu. Hơn nữa, không luôn có sự cân nhắc đúng mức khi thiết kế mặt bằng thi công, ảnh hưởng đến năng suất làm việc. Vì vậy, việc đảm bảo mặt bằng thi công được thiết kế tốt đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuẩn bị và quản lý ATVSLĐ. Việc sắp xếp lộ trình đi vào và ra cho phương tiện vận chuyển vật liệu cần được chú trọng để đảm bảo sự rộng rãi và thuận tiện.
Trong quá trình xây dựng, có nhiều bên tham gia vào công việc thi công Ban Quản lý dự án đại diện cho Chủ đầu tư, tư vấn giám sát, tư vấn thiết kế, tổng thầu/nhà thầu thi công, thầu chính và thầu phụ thi công. Sự hợp tác và giao tiếp giữa các bên đóng vai trò quan trọng để đảm bảo công tác ATVSLĐ hiệu quả. Tiến độ thi công ảnh hưởng lớn đến ATVSLĐ: Kế hoạch và thực hiện đúng tiến độ thi công trong dự án xây dựng có ý nghĩa quan trọng. Điều này có thể giúp giảm chi phí, ghi điểm thêm về đáng tin cậy của nhà thầu trong mắt Chủ đầu tư và tạo niềm tin cho Chủ đầu tư từ phía khách hàng cuối cùng sử dụng sản phẩm.Tiến độ thi công cũng có tác động quan trọng đến quản lý ATVSLĐ, và nếu không được điều chỉnh cẩn thận, có thể dẫn đến tình huống khẩn cấp trong quá trình thi công và gây ra TNLĐ trong lúc xây dựng.
Ảnh hưởng của yếu tố môi trường lao động Tình hình thời tiết đóng một vai trò quan trọng trong việc quản lý ATVSLĐ. Điều này bao gồm các yếu tố như: nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ nhiệt và tốc độ gió, cần được duy trì ở mức phù hợp với sức khỏe của con người. Tuy nhiên, trong lĩnh vực xây dựng, đặc biệt là tại các công trình ngoài trời hoặc cao tầng, các công nhân thường phải đối diện với ánh nắng mặt trời gay gắt vào mùa hè cùng với những cơn gió mạnh, điều này không thể dễ dàng khắc phục. Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp so với tiêu chuẩn có thể làm suy yếu cơ thể, làm mất điều khiển vận động, thậm chí gây tê liệt, tăng nguy cơ TNLĐ.
Nhiệt độ quá cao có thể gây ra các vấn đề về tim mạch, thần kinh, da và mắt 11 liên quan đến công việc. Nhiệt độ thấp quá có thể dẫn đến các vấn đề về hô hấp, khô niêm mạc, thấp khớp, cảm lạnh và khô niêm mạc. Âm thanh và rung chấn cũng góp phần vào tình trạng ATVSLĐ. Tiếng ồn là tiếng ồn gây khó chịu xuất phát từ các va chạm, cọ xát hoặc chuyển động của các thiết bị cơ khí.
Rung chấn là hiện tượng vật lý xuất phát từ hoạt động của các dụng cụ, thiết bị cầm tay như khí nén, lò xo hay động cơ hoạt động. Trong lĩnh vực xây dựng, công nhân thường phải tiếp tục tiếp xúc với âm thanh và sự rung chấn cao do các hoạt động cao. Âm thanh và sự rung chấn vượt quá ngưỡng cho phép có thể gây ra nhiều tình trạng BNN như tình trạng điếc, viêm thần kinh thực vật, rối loạn cảm giác và chức năng sinh sản, tổn thương xương khớp và cơ, cũng như ảnh hưởng đến khả năng tập trung và sự nhạy bén trong công việc. Các công nhân có thể trải qua cảm giác mệt mỏi, sự cáu gắt và buồn ngủ sau thời gian dài tiếp xúc với tiếng ồn, và có nguy cơ mất thính lực, tình trạng điếc nghề nghiệp hoặc các bệnh liên quan đến thần kinh.
Những vấn đề này tăng nguy cơ xảy ra TNLĐ. Nguồn lực đầu tư cho công tác an toàn vệ sinh lao động Thông tư 04/2017/TT-BXD đã quy định về việc quản lý An toàn và Vệ sinh lao động: “Trong quá trình thi công các công trình xây dựng các khoản chi phí bao gồm: triển khai biện pháp kỹ thuật an toàn; tổ chức huấn luyện và tuyên truyền; cung cấp dụng cụ và phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động; công tác PCCC và ngăn chặn tai nạn, cải thiện điều kiện làm việc và phòng chống yếu tố nguy hiểm; ứng phó với tình huống khẩn cấp và sự cố gây mất ATLĐ” [8]. Tuy nhiên, để cạnh tranh về giá trong quá trình tham gia đấu thầu, nhiều nhà thầu thường thực hiện việc cắt giảm chi phí đầu tư cho công tác an toàn nhằm giảm giá trị của gói thầu. Thậm chí, nhiều công trình xây dựng không phân biệt rõ ràng phần chi phí liên quan đến an toàn lao động mà hợp nhất chung vào trong chi phí thi công.
Đặc biệt, các nhà thầu nhỏ thường dành ít nguồn lực cho công tác an toàn lao động, hầu như không tuân thủ đầy đủ theo quy định của pháp luật. Bộ máy quản lý công tác An toàn – Vệ sinh lao động trong ngành Xây dựng Bộ Xây dựng (BXD) đã ủy quyền cho Cục Giám định nhà nước để thực hiện việc kiểm tra chất lượng công trình xây dựng, trong đó Phòng An toàn lao động chịu trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ công tác này ATVSLĐ. Theo Quyết định số 492/QĐ-GĐ ngày 30/7/2015 của Cục trưởng Cục Giám định nhà nước về chất lượng công trình xây dựng đã làm rõ: “Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Phòng An toàn lao động.