CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ 1. Cơ sở lý luận về thuế 1. Một số khái niệm về thuế và quản lý thuế Cho đến nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế, bởi lẽ giác dộ nghiên cứu có nhiều khác biệt. Nhìn chung, các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế mà mình muốn khai thác hoặc tìm hiểu, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế.
Chẳng hạn theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản: "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khoá." Và với quan điểm này, thuế chỉ là sự đóng góp của công dân để duy trì quyền lực nhà nước. Cũng từ luận điểm này, Mác phát triển thêm rằng trong một nhà nước có giai cấp (một giai cấp giành được quyền thống trị) thì thuế thực ra là khoản đóng góp bắt buộc để duy trì quyền lực của giai cấp đó. Khi những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, nghĩ rằng việc bắt buộc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp cai trị, thì họ sẽ không coi thuế là nghĩa vụ công dân và sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn thuế. Quan điểm này đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà kinh tế có quan điểm xã hội trong việc củng cố lập trường đấu tranh giai cấp.
Mặc dù trải qua nhiều giai đoạn và được nhận định trên nhiều giác độ khác nhau, nhưng hiện nay một định nghĩa về thuế theo xu hướng cổ điển vẫn còn đang được áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế kinh tế thị trường, điển hình là khái niệm về thuế của Gaston Jèze đưa ra trong Giáo trình Tài chính công. “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không 7 hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước” Khi nói đến quản lý thì các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu đều cho rằng đây là những hoạt động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu đặt ra. Chính vì vậy, quản lý hành chính thuế cũng có chung là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý thuế đến người nộp thuế nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định. Tuy nhiên, quản lý thuế có tính chất là quản lý hành chính công được thể chế hóa bằng luật pháp và với mục tiêu cuối cùng là đảm bảo thu thuế đủ thuế, đúng thời hạn cho ngân sách nhà nước với chi phí hành thu thấp và đảm bảo nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế.
Như vậy, quản lý thuế đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện hệ thống thuế. Quản lý thuế tốt không đơn giản chỉ là thu thuế cho ngân sách nhà nước, mà thu thuế được thực hiện như thế nào – có nghĩa là, ảnh hưởng của việc thu thuế đến sự công bằng, ảnh hưởng sự thực hiện cam kết quản lý kinh tế của nhà nước và ảnh hưởng đến phúc lợi kinh tế - đây là những vấn đề rất quan trọng. Quản lý thuế chưa tốt là sự quản lý có thể thu được phần lớn số thuế từ những khu vực dễ thu thuế, trong khi để thất thu từ những khu vực khó thu thuế khác. Chính vì vậy, khi nói đến quản lý thuế là làm sao để thu hẹp sự khác biệt sự tuân thủ thuế của người nộp thuế - có nghĩa là, sự khác biệt giữa số thuế thực tế thu được và số thuế đáng ra phải thu được theo luật – và sự khác biệt này như thế nào giữa các bộ phận người nộp thuế.
Trong hình 1, đã mô tả quản lý thuế, trong công tác quản lý thuế có sự tham gia của: Cơ quan quản lý hành chính thuế, người nộp thuế và bên thứ ba, cả ba lực lượng này được đặt trong một môi trường của một nền kinh tế mở. 8 CƠ QUAN NGƯỜI NỘ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH THUẾ THUẾ BÊN THỨ BA MÔI TRƯỜNG: - Kinh tế - Xã hội - Luật pháp Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các bên trong quản lý thuế (Nguồn: Tác giả phân tích) - Cơ quan quản lý thuế: Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan hoặc tổ chức được phép của Nhà nước thực hiện quản lý thuế; - Người nộp thuế: Cá nhân và tổ chức chịu sự điều chỉnh của các luật thuế; - Bên thứ ba: Các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, các tổ chức và cá nhân liên quan đến người nộp thuế (cả trong nước và ngoài nước). Các nội dung Quản lý thuế Điều 3 –Luật Quản lý thuế quy định Quản lý thuế bao gồm 8 nội dung: - Đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế. - Thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế.
- Xoá nợ tiền thuế, tiền phạt. - Quản lý thông tin về người nộp thuế. - Kiểm tra thuế, thanh tra thuế. - Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.
- Xử lý vi phạm pháp luật về thuế. - Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế. Công tác Quản lý nợ thuế 1. Một số khái niệm liên quan đến quản lý nợ thuế - Quản lý nợ thuế là việc quản lý, đôn đốc thu nộp thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật về thuế, phí, lệ phí.
- Tiền thuế nợ: “ là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp và các khoản phải nộp khác theo quy định của pháp luật về thuế mà người nộp thuế đã kê khai, cơ quan thuế đã tính; các cơ quan chức năng phát hiện và thông báo cho cơ quan thuế, cơ quan thuế xác định đây là nghĩa vụ của người nộp thuế và đã thông báo cho người nộp thuế nhưng đã hết thời hạn quy định mà chưa nộp vào NSNN”. - Tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh: “là các khoản tiền thuế, phí, lệ phí, phạt chậm nộp và các khoản phải nộp khác người nộp thuế đã nộp nhưng có một số sai sót trên chứng từ nộp tiền hoặc chứng từ chậm 10 luân chuyển hoặc thất lạc, chờ ghi thu - ghi chi; cơ quan thuế đang điều chỉnh theo đúng quy định”. - Khoản nợ: “là số tiền thuế nợ được xác định theo từng lần phát sinh”. - Tiền phạt chậm nộp thuế: “là khoản tiền phạt được tính trên số tiền thuế nợ và số ngày nợ thuế của một khoản nợ”.
- Số ngày nợ thuế của một khoản thuế nợ: “là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày, kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền nợ đó được nộp vào ngân sách nhà nước, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo Bộ Luật Lao động”. - Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản thuế nợ: “là ngày tiếp theo ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế”. - Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản thuế nợ: “là ngày khoản nợ được nộp vào ngân sách nhà nước; hoặc ngày có hiệu lực thi hành của văn bản xoá nợ, miễn nộp hoặc xử lý bằng các hình thức khác”. Đặc điểm của nợ thuế - Nợ thuế là một hành vi tâm lý phổ biến Như đã đề cập đến các khái niệm ở phần trên thì có thể thấy thuế là một hình thức phân phối thu nhập có tính chất bắt buộc mà mọi người có nghĩa vụ phải nộp cho nhà nước.
Như vậy, hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế. Vì vậy, tâm lý chung của người nộp thuế thường có xu hướng trốn hoặc tránh thuế. Tình trạng này diên ra phổ biến ở nhiều nước có nền hành chính kém phát triển, quyền lực nhà nước thể hiện không rõ rệt, trong đó có Việt Nam chúng ta, khi mà nhận thức xã hội về thuế còn thấp, đại bộ phận người dân chưa hiểu rõ mặt tích cực và lợi ích của việc 11 nộp thuế, xã hội chưa thực sự có ý thức phê phán, lên án mạnh mẽ các hành vi gian lận tiền thuế một cách thường xuyên, quyết liệt. Bên cạnh đó sự hỗ trợ cho cơ quan thuế để thực hiện nhiệm vụ thu NS đúng pháp luật còn hạn chế.
Đã phần nào gây ra tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, nợ đọng thuế còn khá phổ biến. Dẫn tới làm thất thu tiền thuế, không huy động kịp thời các khoản đóng góp vào NSNN, cũng như không đảm bảo công bằng xã hội. Một trong các cách gian lận thuế đó là chính là nợ thuế, tâm lý nợ thuế càng phổ biến hơn khi tỷ lệ tính phạt chậm nộp tiền thuế trong những thời điểm thấp hơn lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại. - Nợ thuế là hành vi vi phạm pháp luật về thuế Quy phạm pháp luật thuế là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các chủ thể thực hiện nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN.
Trong các quy định của pháp luật về thuế luôn đề cập đến các phạm vi điều chỉnh như: mức nộp thuế, người nộp thuế và thời gian phải nộp thuế. Như vậy, hành vi nợ thuế là hành vi vi phạm luật thuế của người nộp thuế bằng cách chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo quy định của pháp luật thuế. - Nợ thuế khác với hành vi trốn thuế Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọi hình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN. Còn nợ thuế mới chỉ là hành vi dây dưa, chậm nộp thuế khi quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên rủi ro tiềm tàng của việc nợ thuế trong chuỗi hành vi có tính toán của NNT dẫn tới hành động trốn nộp ngân sách bằng nhiều hình thức như: Bỏ trốn khỏi địa bàn, tuyên bố doanh nghiệp phá sản, mất khả năng thanh toán thì có thể dẫn tới hành vi trốn thuế. 12 - Nợ thuế khác với hành vi tránh thuế Tránh thuế là hành vi lợi dụng sơ hở của luật thuế để giảm nghĩa vụ thuế. Đây không phải là hành vi vi phạm pháp luật.