CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NHÂN VIÊN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số vấn đề cơ bản về tạo động lực làm việc 1. Khái niệm động lực làm việc và tạo động lực làm việc a) Động lực làm việc Hiện nay có nhiều tác giả, công trình, và bài viết đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về động lực làm việc. Trong cuốn Human Resource Management (tạm dịch: Quản trị Nguồn nhân lực), Ivancevich cho rằng động lực làm việc là tập hợp các thái độ định hướng hành vi của một người hành động theo cách cụ thể, tập trung vào công việc, tránh xa các hoạt động giải trí hoặc các lĩnh vực khác trong cuộc sống, để đạt được mục tiêu.
Khi môi trường hoặc các hoạt động khác thay đổi có thể khiến động lực thay đổi theo (Ivancevich, 2010). Ông cũng đưa ra mô hình kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân, theo đó: Kết quả công việc của mỗi cá nhân = Khả năng x Động lực làm việc Trong đó: - Khả năng bao gồm những khả năng bẩm sinh, những khả năng có được do đào tạo, kết hợp với các nguồn lực - Động lực làm việc là sự khát khao, tự nguyện, mong muốn được làm việc và cống hiến cho tổ chức của nhân viên. Năm 1994, trong cuốn The Management Challenge, Higgins cung cấp khái niệm động lực là những lực đẩy từ bên trong mỗi cá nhân nhằm đáp ứng những nhu cầu họ chưa được thỏa mãn (Higgins, 1994). Trong giáo trình Quản trị Nhân lực, Ths.
Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân cũng đưa ra định nghĩa động lực làm việc chính là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để không ngừng nỗ lực hướng tới một mục tiêu được đề ra, đồng thời nhấn mạnh động lực đó không xuất hiện tự nhiên mà được tạo ra từ các nguồn lực của bản thân nhân viên, từ môi trường sống và môi trường làm việc của họ (Điềm & Quân, 2012). 8 Trong giáo trình Hành vi tổ chức, PGS.TS Bùi Anh Tuấn & PGS.TS Phạm Thúy Hương khẳng định “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao”. Động lực được biểu hiện ở “sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” (Tuấn & Hương, 2009). Như vậy, có thể thấy động lực gắn bó chặt chẽ với bản thân công việc và môi trường làm việc, chứ không phải là đặc điểm tính cách của riêng một cá nhân nào, mà là những mong muốn tự nguyện giúp thôi thúc, động viên, khích lệ nhân viên nỗ lực làm việc để đạt được mục tiêu của công ty, tổ chức.
Động lực đóng vai trò quan trọng trong kết quả làm việc của mỗi cá nhân. Một người nếu không có động lực vẫn có thể hoàn thành công việc được giao với trình độ và năng lực của mình, nhưng nếu mất hoặc suy giảm động lực, kết quả thực hiện công việc sẽ không phản ánh đúng năng lực của người đó, và họ sẽ không còn muong muốn, khao khát được cống hiến, được gắn bó, từ đó họ có xu hướng nghỉ việc, thậm chí chống đối lại công ty, tổ chức. Khái niệm động lực tác giả đề cập đến trong phạm vi nghiên cứu của luận văn là động lực làm việc của nhân viên trong công ty, tổ chức, là trạng thái tràn đầy năng lượng và nhiệt huyết, là sự tự nguyện, mong muốn, nỗ lực tập trung cao độ, phát huy hết khả năng làm việc của mình để hoàn thành công việc, hướng tới hoàn thành các mục tiêu và kết quả kinh doanh đã được công ty, tổ chức đề ra ban đầu. b) Tạo động lực làm việc Có thể nói động lực làm việc của nhân viên trong một công ty, tổ chức là sự kết hợp của rất nhiều yếu tố.
Do đó, việc tạo ra động lực làm việc cũng sẽ phải là tổng hợp nhiều biện pháp và cách thức quản lý của công ty và nhà quản trị tác động tới nhân viên, môi trường làm việc cùng với các mối quan hệ xung quanh nhân viên nhằm thôi thúc, khiến họ có động lực, mong muốn, dồn hết khả năng, sẵn sàng làm việc, nỗ lực hết sức mình để hoàn thành mọi công việc được giao tốt nhất có thể, hướng tới đạt được mục tiêu hay kết quả kinh doanh mà công ty, tổ chức đề ra (Điềm & Quân, 2012).TS Bùi Anh Tuấn & PGS.TS Phạm Thúy Hương, tạo động lực là một hệ thống bao gồm các chính sách, biện pháp và thủ thuật quản lý có ảnh hưởng đến nhân viên, làm cho họ có động lực làm việc (Tuấn & Hương, 2009). Đây vừa là trách nhiệm, lại vừa là mục tiêu của nhà quản trị và các cấp lãnh đạo trong tổ chức. Khi được thôi thúc và khát khao, tự nguyện làm việc, các nhân viên trong công ty có 9 thể có được kết quả thực hiện công việc cao hiệu quả, nhờ đó năng suất lao động (NSLĐ) của chính họ được nâng cao, góp phần vào sự phát triển và thành công của công ty, tổ chức. Tạo động lực làm việc cho nhân viên là cả một quá trình bao gồm: xác định những nhu cầu của nhân viên chưa được thỏa mãn, xây dựng tổng thể các biện pháp tạo động lực, thực hiện và cuối cùng là đánh giá kết quả.
Tuy nhiên, mỗi con người là một cá thể duy nhất trong xã hội, không ai giống ai, và do đó nhau cầu muốn được thoả mãn của họ cũng khác nhau. Các nhân viên trong một công ty cũng vậy, mỗi người có một đặc điểm tính cách, tư duy riêng, do đó nhu cầu chưa được thỏa mãn của họ cũng hoàn toàn không giống nhau. Vì vậy, việc xây dựng được một hệ thống các chính sách, biện pháp tạo động lực làm việc áp dụng chung cho toàn bộ nhân viên của một công ty, tổ chức là một điều không hề dễ dàng, chưa kể đến theo thời gian, khi các yếu tố xung quanh và trong chính nội tâm một người thay đổi cũng có thể khiến cho động lực làm việc của họ thay đổi theo chứ không bất biến. Vai trò của tạo động lực làm việc Công tác tạo động lực làm việc đóng một vai trò rất quan trọng trong tổ chức.
Tạo động lực khi được thực hiện tốt, hiệu quả sẽ có lợi cho cả bản thân nhân viên, công ty và cho cả xã hội, cụ thể là: Đối với nhân viên - Tự giác, tích cực, dồn mọi khả năng, hăng say làm việc, cố gắng hoàn thành tốt các công việc đảm nhận, tăng NSLĐ, đẩy mạnh tinh thần sáng tạo và chất lượng công việc - Được thỏa mãn các nhu cầu: tăng lương, thưởng, thăng tiến trong công việc, v., từ đó chất lượng cuộc sống của họ được nâng cao - Yêu công việc, công ty và gắn bó lâu dài - Nỗ lực làm việc, hỏi hỏi, đúc kết kinh nghiệm và ngày càng hoàn thiện năng lực của bản thân Đối với công ty, tổ chức - Tăng NSLĐ chung, từ đó giúp công ty tăng doanh số, và lợi nhuận, hoàn thành các mục tiêu và kết quả kinh doanh đã đặt ra 10 - Xây dựng được một đội ngũ thiện chiến, nhiệt tình, hăng say, gắn bó và tận tụy - Góp phần giảm tỷ lệ nhân viên thôi việc, thu hút và giữ chân nhân tài, giảm chi phí và công sức tuyển dụng và đào tạo người mới - Tăng cường mối quan hệ công ty – nhân viên, xây dựng và củng cố văn hóa doanh nghiệp vững chắc Đối với xã hội - Góp phần làm tăng chất lượng nguồn nhân lực và NSLĐ toàn xã hội, từ đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội - Làm tăng chất lượng cuộc sống của từng cá nhân và của toàn xã hội - Doanh thu và lợi nhuận tăng thêm của các công ty sẽ đóng góp nhiều hơn vào thu nhập kinh tế quốc dân. Có thể thấy tạo động lực có thể gây tốn kém về thời gian, chi phí, cũng có thể chưa nhìn thấy được lợi ích trong ngày một ngày hai, mà cần cả một quá trình và một thời gian dài thực hiện, nhưng chắc chắn về lâu dài sẽ có giá trị với cả nhân viên, công ty và toàn xã hội. Mục đích tạo động lực làm việc trong doanh nghiệp Bằng những chính sách, biện pháp và công tác quản lý tạo động lực cho nhân viên, các công ty, tổ chức hướng tới các mục đích như sau: - Tăng NSLĐ: Động lực giúp nhân viên nỗ lực hơn, đặt mục tiêu cao hơn và làm việc chăm chỉ hơn. Khi nhân viên cảm thấy động lực và hài lòng với công việc của mình, họ sẽ đạt được hiệu suất làm việc tốt hơn và đóng góp tích cực vào sự phát triển của doanh nghiệp.
Từ đó nguồn nhân lực của công đang có được sử dụng tối ưu và hợp lý nhất có thể. - Gắn kết và giữ chân nhân viên: Việc tạo động lực giúp xây dựng một môi trường làm việc tích cực và tạo sự gắn kết với nhân viên. Khi nhân viên cảm thấy động lực và hài lòng với công việc, họ có xu hướng ở lại lâu dài trong tổ chức và không tìm kiếm cơ hội khác. Điều này giúp doanh nghiệp giữ chân nhân viên tài năng và tránh tình trạng mất nguồn nhân lực quan trọng, từ đó xây dựng được một đội ngũ những con người thiện chiến, giỏi giang, hết lòng, hết mình vì công việc.
Do đó, có thể nói công tác tạo động lực có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với một công ty, tổ chức. 11 - Khuyến khích sáng tạo và đổi mới: Khi nhân viên cảm thấy động lực, họ sẽ tìm kiếm cách để cải tiến quy trình làm việc, đưa ra ý tưởng mới và góp sức mình vào sự phát triển và tăng trưởng của tổ chức. - Tạo ra môi trường làm việc tích cực: Nơi nhân viên có cảm giác hạnh phúc, được tôn trọng, được đối xử công bằng và được đánh giá cao. Một môi trường làm việc tích cực tạo điều kiện tốt để nhân viên phát triển và thúc đẩy tinh thần đội nhóm, đoàn kết, hợp tác và sáng tạo.
- Đạt được mục tiêu của tổ chức: Tạo động lực giúp đưa tổ chức đạt được mục tiêu chiến lược và kinh doanh. Khi nhân viên được động viên và hỗ trợ, họ sẽ cống hiến hơn và đóng góp vào thành công tổng thể của doanh nghiệp.