Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ĐẠO ĐỨC CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND QUẬN THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Khái niệm công chức và đạo đức công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện 1. Khái niệm công chức hành chính nhà nước Công chức là một khái niệm được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, để chỉ nguồn nhân lực làm việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước, do ngân sách nhà nước chi trả. Do tính chất đặc thù của mỗi quốc gia, cho nên nội hàm khái niệm công chức của các nước cũng không hoàn toàn đồng nhất.
Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành, phát triển gắn với sự hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Khái niệm công chức xuất hiện đầu tiên từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 ban hành Quy chế công chức. Tiếp đó, tháng 02/1998, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh CBCC. Tiếp theo là Nghị định 95/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 1998, Nghị định 117/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức cũng nêu lên khái niệm công chức.
Tuy nhiên, các văn bản trên không xác định và phân biệt được rõ thuật ngữ “cán bộ”; “công chức” nên các quy định trên đã dẫn đến những hạn chế và khó khăn trong quá trình xác định những điểm khác nhau (bên cạnh những điểm chung) liên quan đến quyền và nghĩa vụ, đến cơ chế và các quy định quản lý, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, kỷ luật, chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động của cán bộ cũng như của công chức. Sự ra đời của Luật CBCC năm 2008 đã giải quyết tương đối triệt để và khoa học, phù hợp với lịch sử hình thành đội ngũ CBCC; phù hợp với thể chế chính trị và thực tiễn quản lý của Việt Nam. Đây được coi là một trong các thành công của Luật cán bộ, công chức năm 2008. Theo Điều 1 của Luật này thì khái niệm công chức được hiểu một cách rõ ràng như sau: 7 Xuất phát từ khái niệm công chức đã được nhắc nhiều và qua đối chiếu với các quy định của pháp luật hiện hành có thể đưa ra một số quan niệm về “công chức hành chính nhà nước” như sau: Công chức hành chính nhà nước là thuật ngữ để chỉ “công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Như vậy khi nói đến công chức HCNN là nói đến những người hoạt động trong các cơ quan HCNN từ trung ương đến địa phương, đảm nhiệm chức năng quản lý HCNN. Hoạt động quản lý HCNN là chức năng của hệ thống cơ quan HCNN. UBND do Hội đồng nhân dân bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan HCNN ở địa phương. UBND các cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương.
Chức năng đó được thực thi bởi đội ngũ công chức thuộc UBND. Chính quyền cấp huyện là cấp hành chính trung gian, vừa thực hiện chức năng trực tiếp phục vụ nhân dân, vừa lãnh đạo, điều hành cấp dưới. Trong đó, UBND cấp huyện là cơ quan hành chính thực hiện chức năng quản lý HCNN trên địa bàn cấp huyện, trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội. UBND cấp huyện được giao nhiệm vụ rất quan trọng, từ việc hoạch định đến tổ chức quản lý các mặt của đời sống xã hội trên địa bàn.
Chức năng, nhiệm vụ nêu trên được thực hiện bởi đội ngũ công chức. Từ phân tích trên có thể hiểu “công chức hành chính nhà nước cấp huyện là khái niệm dùng để chỉ công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong cơ quan hành chính nhà nước cấp huyện, đảm nhiệm chức năng quản lý nhà nước, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” Theo đó, Công chức HCNN cấp huyện bao gồm: “- Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong Văn phòng HĐND và UBND; 8 - Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND quận, huyện, Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng và người làm việc trong văn phòng UBND quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức HĐND; - Người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc UBND. Khái niệm, đặc điểm đạo đức công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp quận huyện 1. Khái niệm đạo đức công vụ Đội ngũ công chức Việt Nam nói chung, công chức HCNN cấp huyện nói riêng được hình thành và phát triển gắn với quá trình cách mạng nước ta, qua các thời kỳ khác nhau.
Ở nước ta, cải cách hành chính được đặt ra như một đòi hỏi khách quan của thực tế, đồng thời xây dựng được những điều kiện cần thiết để có thể tận dụng được mọi cơ hội của hội nhập và toàn cầu hóa cho việc phát triển kinh tế, xây dựng một hệ thống hành chính tạo ra điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng một nhà nước thực sự “của dân, do dân và vì dân” phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ công chức nói chung, công chức HCNN cấp huyện nói riêng. Đạo đức công vụ là một dạng của đạo đức cách mạng. Yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp là chuẩn mực chung của cán bộ, công chức Việt Nam, nhưng đối với cán bộ, công chức cấp huyện yêu cầu về chuẩn mực đạo đức là một trong những yêu cầu rất cao vì họ là những người hàng ngày trong hoạt động tác nghiệp của mình đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến việc giải quyết quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Vì vậy, một trong những yêu cầu của đội ngũ này là phải có đạo đức nghề nghiệp cao để một mặt tạo nên niềm tin của nhân dân đối với cơ quan nhà nước, mặt khác để khắc phục hiện tượng tiêu cực trong quá trình giải quyết công việc.
Các nhà triết học, đạo đức học, thường nhìn nhận đạo đức như là một hình thái ý thức xã hội, bên cạnh các hình thái ý thức xã hội khác (chính trị, pháp luật, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học …). Trong quá trình hình thành và phát triển, không 9 có một loại hình “ Đạo đức bất biến”. Theo Giáo trình triết học Mác – Lê nin (1999) Nxb Chính trị quốc gia thì: “… đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện, ác, tốt, xấu, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng… và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội”. Trong từ điển tiếng Việt thuộc viện Ngôn ngữ học, đạo đức được coi là “Những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội”.
Trong giáo trình đạo đức học, Nhà xuất bản giáo dục (năm 1985), quan niệm: “Đạo đức là hệ thống những chuẩn mực biểu hiện sự quan tâm tự nguyện, tự giác của những con người trong quan hệ với nhau và trong quan hệ với xã hội nói chung”. Theo giải thích của học giả Đào Duy Anh, thì chữ “đạo đức” bao gồm hai thành tố “đạo” và “đức”, “đạo” có nghĩa là đường đi, còn “đức” có nghĩa là nguyên lý tự nhiên, là cái lý – phải, người ta noi theo. Mặc dù có nhiều cách định nghĩa, có nhiều cách tiếp cận, cách hiểu khác nhau ở mức rộng, hẹp, khác nhau, nhưng nhìn chung, khi nói tới đạo đức đều nhấn mạnh một số nội dung sau đây: Thứ nhất, đạo đức là những chuẩn mực, những quy tắc trong hành vi, cách xử sự giữa con người với con người. Thứ hai, đạo đức là công lý là lẽ phải, là các chuẩn mực phù hợp với quy luật của tự nhiên và xã hội, là lẽ sống ở đời.
Thứ ba, đạo đức là phẩm chất, nét đẹp của con người. Thứ tư, đạo đức là những chuẩn mực ứng xử được dư luận xã hội thừa nhận, được thực hiện một cách tự giác, tự nguyện Từ những cách tiếp cận trên, có thể đưa ra định nghĩa: đạo đức là hệ thống các quan điểm, quan niệm, những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, được ra đời, tồn tại và biến đổi theo nhu cầu xã hội, trở thành quy luật sống của xã hội, chúng được thực hiện bởi sự tự giác và sức mạnh của dư luận xã hội. Đạo đức công vụ được xây dựng từ cơ sở của định nghĩa nêu trên phù hợp với lĩnh vực hoạt động động công vụ. Để làm rõ khái niệm đạo đức công vụ, cần phân tích khái niệm công vụ.Trong ngôn ngữ tiếng Việt, thuật ngữ “Công vụ” là từ 10 Hán – Việt, công vụ là hoạt động phục vụ lợi ích công cộng “Công vụ là việc chung”, “Công vụ nhà nước là mọi hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ của nhà nước”.
Cách hiểu này quá rộng, có thể coi, “công vụ là hoạt động gắn với quyền lực nhà nƣớc cho cán bộ công chức, viên chức thực hiện; vừa là hoạt động dịch vụ công vì lợi ích công, lợi ích chung của xã hội. Trong cuốn Luật hành chính Việt Nam của (Nxb Giao thông vận tải) các tác giả cho rằng, “công vụ nhà nước là một phần hay một hoạt động có tính tổ chức của nhà nước … hoạt động công vụ do cán bộ công chức nhà nước đảm nhiệm nhằm thực hiện nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước” Còn trong giáo trình “Hành chính công” của Học viện Hành chính Quốc gia thì quan niệm, “Công vụ là một hoạt động mang tính quyền lực và pháp lý, được thực thi bởi đội ngũ công chức nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt của đời sống xã hội” Trong khi đó, Điều 2, Luật cán bộ, công chức, năm 2008 quy định, “Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của luật này và các quy định khác có liên quan”. Như vậy, có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng ở Việt Nam, khái niệm “công vụ” được hiểu rộng hơn khái niệm “công vụ nhà nước”.