Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng doanh nghiệp tại VietinBank chi nhánh Hà Thành Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng doanh nghiệp tại VietinBank chi nhánh Hà Thành 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Theo tác giả Tô Ngọc Hưng (2019), tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng nguồn vốn từ các chủ thể thừa vốn hay thặng dư vốn sang những chủ thể thiếu hụt về vốn trong một khoảng thời gian nhất định và sau khi kết thúc thời gian đó chủ thể thiếu hụt nguồn vốn, phải hoàn trả lại vốn và lãi cho quá trình sử dụng vốn. Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến (2015), tín dụng doanh nghiệp là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho các khách hàng doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Từ khái niệm trên, theo tác giả, tín dụng doanh nghiệp là hình thức cấp tín dụng của ngân hàng đối với khách hàng doanh nghiệp, trong đó ngân hàng chuyển cho doanh nghiệp một khoản vốn bằng tiền để sử dụng vào mục đích kinh doanh cụ thể với thời gian nhất định được ký kết theo hợp đồng tín dụng/giấy nhận nợ trên nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi. Đặc điểm tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến (2015), đặc điểm tín dụng doanh nghiệp tại NHTM gồm: Một là, số lượng khách hàng doanh nghiệp (KHDN) vay vốn tại NHTM chiếm tỷ trọng thấp, nhưng dư nợ tín dụng KHDN luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ tín dụng của NHTM. Trong nền kinh tế, số lượng KHDN ít hơn nhiều so với số lượng khách hàng cá nhân (KHCN). Hai là, quy mô tín dụng của từng hợp đồng thường có giá trị lớn.
Các doanh nghiệp thường vay để bổ sung nguồn vốn lưu động, xây dựng nhà xưởng, đầu tư máy móc, thiết bị… các mục đích vay này đòi hỏi nguồn vốn đầu tư thường có quy mô lớn hơn so với các khoản tín dụng tiêu dùng. Ba là, KHDN của NHTM rất đa dạng vì doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Các doanh nghiệp vay vốn của NHTM có thể tới từ các địa bàn 9 khác nhau, quy mô kinh doanh khác nhau, ngành nghề kinh doanh khác nhau. Bốn là, nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp thường rất lớn trong khi khả năng đáp ứng về tài sản bảo đảm (TSĐB) khoản vay của doanh nghiệp có giới hạn.
Thông thường để bổ sung nhu cầu thiếu hụt vốn kinh doanh, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp khá nhiều. Tuy nhiên, trong các loại tài sản mà doanh nghiệp nắm giữ thì chỉ có một số loại tài sản nhất định có thể đảm bảo điều kiện bảo đảm nợ vay. Năm là, các thông tin tài chính được doanh nghiệp có độ tin cậy hơn khách hàng cá nhân. Các doanh nghiệp cần phải công khai thông tin, đăng ký thông tin với Sở Kế hoạch và Đầu tư các địa phương, mặt khác lại chịu sự quản lý của cơ quan thuế.
Các doanh nghiệp hàng năm đều phải tuân thủ các quy định về chế độ báo cáo, kiểm toán… Do vậy, thông tin mà doanh nghiệp đã được kiểm chứng qua cơ quan thuế, cơ quan kiểm toán nên có sự tin cậy hơn. Sáu là, rủi ro từ cho vay doanh nghiệp thường gây ra tổn thất lớn cho ngân hàng. Do đó, ngân hàng thường rất quan tâm đến việc kiểm soát, hạn chế rủi ro này. Hoạt động cho vay doanh nghiệp thường gây ra rủi ro lớn, vì quy mô món vay lớn; việc thu thập đầy đủ thông tin về doanh nghiệp là rất khó khăn; nguồn tiền trả nợ lấy từ dòng tiền thu được thông qua quá trình đầu tư chịu nhiều tác động bởi các yếu tố khó dự báo… Do đó, vấn đề rủi ro gặp phải trong quá trình cho vay là khó lường trước và gây ra những tổn thất lớn.
Ngân hàng thường sử dụng nhiều biện pháp nhằm kiểm soát và hạn chế các rủi ro này như biện pháp về tài sản đảm bảo, trích lập dự phòng xử lý nợ xấu, bảo hiểm khoản vay… Bảy là, chi phí tổ chức cấp tín dụng cho doanh nghiệp thường cao hơn cho vay nhóm KHCN. Các khoản vay của doanh nghiệp thường lớn nên tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn. Trong khi đó, vốn vay của doanh nghiệp được sử dụng cho mục đích kinh doanh nên nguồn trả nợ thường là dự tính không chắc chắn trong tương lai. Chính vì vậy, khâu thẩm định khách hàng, giải ngân cũng như theo dõi khoản vay thường phức tạp và tốn kém chi phí hơn.
Phân loại tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Theo tác giả Nguyễn Văn Tiến (2015), có thể phân loại tín dụng doanh nghiệp theo các tiêu thức sau: 1. Căn cứ vào thời hạn cấp tín dụng 10 Tín dụng ngắn hạn: là các khoản cấp tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp. Tín dụng trung và dài hạn: là khoản tín dụng có thời hạn hơn trên 12 tháng, chủ yếu sử dụng để đầu tư tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, xây dựng nhà ở, mua sắm phương tiện vận tải, xây dựng nhà xưởng hay để đầu tư cho các dự án trung hạn có thời gian tương ứng (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Căn cứ vào biện pháp đảm bảo tín dụng Tín dụng không có bảo đảm: là loại cấp tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của người thứ ba mà cấp tín dụng chỉ dựa vào uy tín của bản thân của khách hàng vay vốn để quyết định cấp tín dụng (Phan Thị Thu Hà, 2012).
Tín dụng có bảo đảm: là loại cấp tín dụng dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như cầm cố, thế chấp tài sản của khách hàng vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Sự bảo đảm này là căn cứ để ngân hàng có thêm nguồn thu thứ hai bổ sung cho nguồn thu thứ nhất thiếu chắc chắn (Phan Thị Thu Hà, 2012). Thế chấp: là hình thức theo đó doanh nghiệp phải chuyển các giấy tờ chứng nhận sở hữu hoặc sử dụng các tài sản bảo đảm sang ngân hàng nắm giữ trong thời hạn cam kết (Phan Thị Thu Hà, 2012). Cầm cố: là hình thức theo đó doanh nghiệp vay vốn phải chuyển quyền kiểm soát tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết (Phan Thị Thu Hà, 2012).
Bảo lãnh: Xuất hiện bên thứ ba - bên bảo lãnh, cam kết thực hiện nghĩa vụ đối với khoản tín dụng thay cho doanh nghiệp vay vốn nếu doanh nghiệp vay vốn không thực hiện được. Bên bảo lãnh sẽ bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn bằng chính tài sản của mình (Phan Thị Thu Hà, 2012). Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng Cấp tín dụng bằng tiền: là loại hình cấp tín dụng bằng tiền. Đây là hình thức tín dụng chủ yếu của ngân hàng và được thực hiện bằng các kỹ thuật khác nhau như: tín dụng ứng trước, thấu chi, tín dụng thời vụ, tín dụng trả góp (Nguyễn Văn Tiến, 2015).
Cấp tín dụng bằng tài sản: là hình thức cho vay bằng tài sản rất phổ biến và đa dạng, mà điển hình nhất là tài trợ thuê mua. Theo phương thức này ngân hàng 11 hoặc công ty thuê mua (công ty con của Ngân hàng) cung cấp trực tiếp tài sản cho khách hàng và theo định kỳ khách hàng hoàn trả nợ vay gồm cả gốc và lãi (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Chất lƣợng tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm chất lượng tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Chất lượng cho vay doanh nghiệp thể hiện thông qua việc ngân hàng đáp ứng được nhu cầu vay vốn của khách hàng doanh nghiệp, đồng thời khách hàng vay vốn phải hoàn trả đúng hạn đầy đủ cả gốc và lãi cho ngân hàng.
Mặt khác, chất lượng tín dụng doanh nghiệp chính là việc vốn vay được các doanh nghiệp sử dụng có hiệu quả, trang trải được các chi phí hoạt động, đáp ứng được nhu cầu và đem lại lợi nhuận cho khách hàng vay vốn (Lý Hoàng Ánh và Nguyễn Đăng Dờn, 2016). Tiếp cận khái niệm trên cơ sở đó ta có thể hiểu chất lượng tín dụng doanh nghiệp được thể hiện qua mối quan hệ giữa các chủ thể đó là: KHDN, ngân hàng và cả nền kinh tế quốc dân (Tô Ngọc Hưng, 2019). Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu chất lượng tín dụng doanh nghiệp trên góc độ ngân hàng. Do đó, có thể hiểu chất lượng tín dụng doanh nghiệp của NHTM là đảm bảo sự tăng trưởng về quy mô và đảm bảo khả năng an toàn, sinh lợi, đồng thời đáp ứng các yêu cầu về vốn của KHDN phù hợp với quy định của pháp luật và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội.
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại 1. Các chỉ tiêu định lượng (1) Gia tăng dư nợ tín dụng doanh nghiệp Dư nợ tín dụng doanh nghiệp là số dư cuối kỳ tính toán, được tính theo thời điểm, đây là tổng số tiền mà doanh nghiệp (DN) hiện còn nợ ngân hàng tại một thời điểm nhất định. Mức độ tăng, giảm tuyệt đối dư nợ tín dụng doanh nghiệp: Chỉ tiêu này phản ánh sự thay đổi dư nợ tín dụng doanh nghiệp năm (n) so với năm (n-1) tăng lên hay giảm đi bao nhiêu. Mức tăng/giảm dư nợ Tổng dư nợ doanh nghiệp Tổng dư nợ doanh = - doanh nghiệp năm n nghiệp năm (n-1) 12 Chỉ tiêu này lớn hơn 0 cho thấy quy mô tín dụng doanh nghiệp trong năm n lớn hơn năm (n-1).
Điều này cho thấy sự phát triển về quy mô tín dụng doanh nghiệp. Tốc độ tăng dư nợ tín dụng doanh nghiệp: Chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng doanh nghiệp phản ánh tốc độ thay đổi dư nợ tín dụng của năm (t) so với năm trước là bao nhiêu. Tốc độ tăng trưởng Mức tăng/giảm dư nợ tín dụng DN tuyệt đối năm t = x 100 dư nợ tín dụng DN Tổng Dư nợ tín dụng DN năm (t-1) Nếu chỉ tiêu này tăng lên so với năm trước, chứng tỏ NHTM đã phát triển quy mô tín dụng DN và ngược lại.