phần mở đầu giới thiệu chung, luận văn bao gồm 04 chƣơng cụ thể: CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG. CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI. CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHCN TẠI HDBANK HÀ NỘI. CHƢƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHCN TẠI HDBANK HÀ NỘI.
3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu chất lƣợng tín dụng trong hoạt động cho vay cá nhân Trong xu hƣớng phát triển tất yếu của ngành ngân hàng Việt Nam trong thời gian tới sẽ phát triển theo mô hình ngân hàng bán lẻ. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của việc phát triển ngân hàng bán lẻ trong xu thế hiện nay, các ngân hàng trong nƣớc đã đƣa ra các chính sách, sản phẩm và định hƣớng lâu dài. Thể hiện rõ nhất là các ngân hàng ACB, ngân hàng Đông Á, Sacombank, HDBank….Các ngân hàng nƣớc ngoài nhƣ ANZ, HSBC, CitiBank… sau khi thành lập ngân hàng 100% vốn nƣớc ngoài cũng muốn tham gia thị trƣờng còn sơ khai này.
Các ngân hàng quốc doanh, hay chuyển đổi cổ phần hoá cũng đã có những chiến lƣợc lâu dài cho phát triển ngân hàng bán lẻ. Hoạt động cho vay cá nhân là một phần trong hoạt động của ngân hàng bán lẻ, nó tạo ra khoản thu nhập lớn và ổn định dựa trên số đông ngƣời sử dụng, đồng thời tăng hình ảnh của ngân hàng trong con mắt ngƣời dân, góp phần vào sự phát triển bền vững, lâu dài của ngân hàng. Hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Việt nam vẫn còn khá nhỏ bé so với tiềm năng của nó và chƣa đƣợc các ngân hàng thƣơng mại khai thác triệt để, chỉ tính con số gần 90 triệu dân, trong đó 2/3 là dân số trong độ tuổi lao động và chỉ mới khoảng 17% dân số có tài khoản và sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Trƣớc đây, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân còn hạn chế xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhƣ công nghệ kém không đáp ứng các yêu cầu của sản phẩm; nhận thức của ngân hàng đối với các khoản vay cá nhân còn hạn chế đƣợc nhìn dƣới góc độ rủi ro…dẫn đến các sản phẩm chƣa đa dạng.
Các ngân hàng vẫn chỉ tập trung tới cho vay các doanh nghiệp, thị phần cho vay cá nhân rất thấp. Vấn đề cho vay KHCN ngày càng đƣợc các ngân hàng coi trọng, song song với đó là việc kiểm soát chất lƣợng cho vay cũng đƣợc nâng cao. Trƣớc đây đã có rất nhiều các đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến chất lƣợng tín dụng. Các công trình nghiên cứu đó đã đề cập đến 4 z những mặt khác nhau của chất lƣợng tín dụng nói chung và chất lƣợng tín dụng trong hoạt động cho vay KHCN nói riêng.
Sau quá trình tìm hiểu, tác giả xin đƣa ra một số trong những nghiên cứu, những đề tài cụ thể có liên quan đến nội dung đang nghiên cứu nhƣ sau: Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Kiều với cuốn “Nghiệp vụ ngân hàng thƣơng mại” và “tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng”; Giáo trình “Kinh tế học tiền tệ ngân hàng”(của tác giả Trịnh Thị Hoa Mai chủ biên do nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội phát hành) - Về mặt thực tiễn có: “Nâng cao hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với phát triển nông nghiệp và nông thôn ở Quảng Ninh” – Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Nguyễn Thành Chung, Học viện ngân hàng và một số đề tài nghiên cứu. Luận văn thạc sĩ “Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng tại Sở giao dịch II – Ngân hàng công thƣơng Việt Nam” của Trƣơng Thị Thu Ngân – Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh; Luận văn thạc sĩ “Nâng cao chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Đông Đô” của Nguyễn Thu Phƣơng – Đại Học kinh tế quốc dân; Luận văn Thạc sỹ Kinh tế “Nâng cao chất lƣợng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thƣơng mại Cố phần Kỹ thƣơng Việt Nam” của Nguyễn Thị Hằng – Học viện tài chính cùng với luận văn của nhiều học viên các trƣờng đại học trong cả nƣớc về vấn đề chất lƣợng tín dụng ngân hàng. Ngoài ra còn có các đề tài, sách tham khảo, giáo trình, các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành. Đây là các công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo rất tốt về lý luận và thực tiễn.
Ở các công trình khoa học trên vấn đề nâng cao chất lƣợng tín dụng đã đƣợc nhiều tác giả đề cập, tuy nhiên mỗi đề tài lại có một cách tiếp cận và nội dung nghiên cứu khác nhau tùy vào tình hình thực tế, đặc điểm của từng ngân hàng, từng địa phƣơng và mang tính thời điểm, phạm vi trong một tổ chức cụ thể. 5 z Do đó đứng trƣớc bối cảnh hiện nay với một tổ chức khác không còn phù hợp nữa. Vì vậy từ thực tiễn và lý luận với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nâng cao chất lƣợng tín dụng tại HDBank Hà Nội, tác giả hy vọng sẽ nhận đƣợc nhiều sự ủng hộ, ý kiến đóng góp của tất cả mọi ngƣời quan tâm vấn đề này. Cơ sở lý luận tín dụng trong hoạt động cho vay cá nhân 1.
Khái niệm tín dụng cá nhân Đối tƣợng khách hàng cá nhân bao gồm cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể, vì vậy Tín dụng cá nhân là hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là ngƣời chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dƣới hình thức hộ kinh doanh cá thể. Đặc điểm của tín dụng cá nhân Tín dụng cá nhân là loại hình tín dụng khác biệt so với tín dụng doanh nghiệp. Với phạm vi nghiên cứu của luận văn này, xin đƣa ra một số khác biệt nhƣ: a. Quy mô mỗi khoản vay nhỏ, số lượng các khoản vay lớn Khách hàng cá nhân thƣờng có hai mục đích vay: - Thứ nhất, là cá nhân, hộ gia đình vay để bổ sung vốn kinh doanh.
Quyền hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình đƣợc pháp luật thừa nhận, nhƣng do năng lực hạn chế nên hoạt động kinh doanh thƣờng không có quy mô lớn. - Thứ hai, là cá nhân vay đáp ứng nhu cầu vốn để tiêu dùng. Khoản vay cá nhân cho mục đích này trực tiếp phục vụ cho nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống nhƣ mua nhà đất, mua sắm vật dụng gia đình, xây dựng, sửa chữa nhà, du học… Số tiền cho vay hai mục đích này đều bị giới hạn bởi những điều kiện từ ngân hàng đó là: tính hợp lý của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo. Tuy nhiên, số lƣợng các khoản tín dụng cá nhân là rất lớn do hai nguyên nhân: Số lƣợng khách hàng cá nhân đông do đối tƣợng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội, từ những ngƣời có thu nhập cao đến những ngƣời có thu nhập trung bình và thấp 6 z Nhu cầu tín dụng phong phú và đa dạng của khách hàng cá nhân, vì khi chất lƣợng cuộc sống và trình độ dân trí đƣợc nâng cao, ngƣời dân càng có nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống.
Tín dụng cá nhân thường dẫn đến các rủi ro - Rủi ro do thông tin bất cân xứng Khi thẩm định cho vay thì thông tin về bản thân khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng để ngân hàng đƣa đến quyết định cho vay, bên cạnh tính hợp lý và hợp pháp của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo. Đối với khách hàng là tổ chức, việc nắm bắt thông tin khách hàng là tƣơng đối thuận lợi do có rất nhiều nguồn thông tin đƣợc công khai nhƣ: báo cáo tài chính, thông tin xếp hạng tín dụng, tình hình nộp thuế, uy tín quan hệ với các đối tác… Ngƣợc lại, đối với khách hàng cá nhân, việc đánh giá nhân thân, nguồn trả nợ, mục đích sử dụng vốn vay thƣờng khó đầy đủ và rõ ràng dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng, khiến cho việc thẩm định khách hàng thiếu chính xác. Nguồn trả nợ chủ yếu của khách hàng cá nhân là từ thu nhập ổn định ở thời điểm hiện tại. Do vậy, nếu ngƣời vay gặp vấn đề về sức khoẻ, mất việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hƣởng đến thu nhập thì sẽ không trả đƣợc nợ vay cho ngân hàng.
- Rủi ro tác nghiệp Do đặc điểm của tín dụng cá nhân là quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhƣng số lƣợng khoản vay lớn, vì vậy để có thể đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng nhằm nâng cao kết quả công việc đòi hỏi sự phục vụ nhanh chóng của CBTD. Do đó, trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng các cán bộ thƣờng hay chủ quan, thậm chí lợi dụng sự lỏng lẻo của công tác quản lý và sơ hở của các quy định để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của khách hàng, hoặc thông đồng với khách hàng gây ra những tổn thất cho ngân hàng. Rủi ro này còn tăng lên đối với cho vay tín chấp, do ngân hàng cấp tín dụng trên cơ sở thẩm định uy tín của khách hàng tốt hay xấu mà không có biện pháp đảm bảo bằng tài sản. Trong trƣờng hợp đó, nếu khách hàng thực sự không có khả năng trả nợ vay hoặc có khả năng, nhƣng không có ý chí trả nợ vay trong khi việc quản lý 7 z thông tin về sự thay đổi nơi cƣ trú, công việc của khách hàng là một điều không dễ dàng thì sẽ rất khó khăn cho ngân hàng khi xử lý khoản vay để thu hồi nợ.
Tín dụng cá nhân gây tốn kém nhiều chi phí Do đặc điểm của khách hàng cá nhân là số lƣợng nhiều và phân tán rộng nên để duy trì và phát triển tín dụng cá nhân sẽ tốn kém nhiều chi phí cho các công tác: - Mở rộng hệ thống mạng lƣới, quảng cáo, tiếp thị tạo thuận lợi trong việc tiếp cận đối tƣợng khách hàng cá nhân ở từng địa bàn, khu vực. - Phát triển nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định đến quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ.