CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC CỦA TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân lực Thuật ngữ “nhân lực” xuất hiện lần đầu vào đầu những năm 50 của thế kỷ XX, khi có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý hiện đại - quản lý trên cơ sở lấy con người tức nhân viên làm trung tâm thay vì cứng nhắc đặt công ty đứng hàng đầu. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nhân lực: Theo Đỗ Văn Phức (2016) thì: “Nhân lực của doanh nghiệp là toàn bộ khả năng lao động mà doanh nghiệp cần và huy động được cho việc thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp.
Nhân lực của doanh nghiệp còn đồng nghĩa với sức mạnh của lực lượng lao động, đội ngũ lao động” [14, tr. Theo Bùi Văn Nhơn (2018) thì: “Nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” [13, tr. Xét trên tầm vĩ mô của nền kinh tế, theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2017) “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [5, tr. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2018) “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người có đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động” [1, tr. Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Tấn Thịnh (2019) thì cho rằng: “Nhân lực của tổ chức còn bao gồm tất cả phẩm chất tốt đẹp, kinh nghiệm sống, óc sáng tạo và nhiệt huyết của mọi người lao động làm việc trong tổ chức, từ giám đốc cho đến tất cả các công nhân viên. So với các nguồn lực khác như tài nguyên, tài chính và các yếu tố vật chất (như nguyên vật liệu, máy móc, thông tin…) với tính chất là có giới hạn và thụ động thì nguồn nhân lực lại có đặc điểm là vô tận, là chủ động, 11 tích cực và sáng tạo. Sự ưu việt của nguồn nhân lực so với các nguồn lực khác chính là do bản chất của con người” [11, tr.
Theo Mai Thanh Lan (2016) “Nhân lực của tổ chức/doanh nghiệp được hiểu là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại ở những người lao động trong tổ chức/doanh nghiệp, trong đó bao gồm toàn bộ năng lực cốt lõi để thực thi có hiệu quả mục tiêu và chiến lược kinh doanh đã xác định” [10, tr. Nhân lực là nguồn tài nguyên sống duy nhất (con người) có thể sử dụng và kiểm soát các nguồn lực khác, có thể khai thác tốt nhất khả năng, năng suất và hiệu quả của chúng. Vì vậy, nếu khả năng và năng lực của người lao động được nâng cao hay phát triển thì doanh nghiệp cũng ngày càng phát triển hơn, tiềm năng hơn, khả năng cạnh tranh lớn mạnh hơn. Từ các khái niệm và quan điểm nêu trên, có thể hiểu: Nhân lực trong doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp, tổ chức trả công.
Sử dụng có hiệu quả mục tiêu của doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng nhân lực 1. Chất lượng nhân lực Xét trên góc độ vi mô, theo nhận định của Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2017) thì chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như: trí tuệ, sự hiểu biết, trình độ, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ… của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và tâm lực là hai yếu tố quan trọng để xem xét và đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.
Xét trên góc độ vĩ mô, theo Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu (2018) thì chất lượng nhân lực có thể được hiểu là: “Chất lượng nhân lực, mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên nhân lực được biểu hiện thông qua các tiêu thức như: Sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn… Chất lượng nhân lực do trình độ phát triển kinh tế - xã hội và chính sách đầu tư phát triển nhân lực của chính phủ quốc gia quyết định”. Nâng cao chất lượng nhân lực Theo Dương Anh Hoàng (2018) thì “Nâng cao chất lượng nhân lực là một nội dung quan trọng của phát triển nhân lực, đó là hoạt động: “nâng cao về thể lực trí 12 tuệ, đạo đức, năng lực, kỹ năng, thẩm mỹ,… của người lao động” và sự “phát triển chất lượng nhân lực được tác động, chi phối bởi những yếu tố sức khỏe và dinh dưỡng, giáo dục - đào tạo, giá trị văn hóa truyền thống và môi trường sống” [23, tr. Theo Vũ Bá Thế (2018) thì “Nâng cao chất lượng nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng con người lao động (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý - xã hội) đáp ứng đòi hỏi về nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển” [15, tr. Theo khái niệm của Liên Hợp Quốc, nâng cao chất lượng nhân lực là bao gồm nâng cao về chất lượng giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động.
Nâng cao chất lượng nhân lực chính là sự tăng cường sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của nhân lực lên đến một trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của một quốc gia, một doanh nghiệp. Do đó, chất lượng nhân lực chính là động lực trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Thông qua chất lượng nhân lực thể hiện rõ trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, chất lượng cuộc sống của dân cư hay mức độ văn minh của một xã hội. Nâng cao chất lượng nhân lực chính là sự tăng cường sức mạnh và kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của nhân lực lên đến một trình độ nhất định nào đó, để lực lượng này có thể hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh doanh trong một giai đoạn phát triển nhất định của một tổ chức hoặc doanh nghiệp.
Nâng cao chất lượng nhân lực là một hoạt động cần thiết và thường xuyên trong mỗi một tổ chức và cũng như của mỗi một tổ chức hay của doanh nghiệp, bởi nhân lực có thể nói là một tài sản quan trọng của tổ chức, có quyết định đến sự phát 13 triển chung của tổ chức. Một tổ chức mạnh hay yếu, phát triển hay tụt hậu phụ thuộc phần lớn vào chất lượng nhân lực của tổ chức đó. Tóm lại, theo ý kiến của tác giả thì nâng cao chất lượng nhân lực trong một tổ chức là việc nâng cao mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người làm việc trong tổ chức đó trên các phương diện: thể lực, trí lực, tâm lực so với các yêu cầu công việc cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung. Tiêu chí để đánh giá trí lực là năng lực của nhân lực dựa trên khung năng lực của từng vị trí; thể lực được đánh giá bởi sức khỏe do cơ quan y tế kiểm tra định kỳ hàng năm và số ngày nghỉ ốm, nghỉ do tai nạn lao động; còn tâm lực được đánh giá bằng sự hài lòng về môi trường và công việc.
Nội dung và các tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực của tổ chức Chất lượng nhân lực được biểu hiện ở các mặt thể lực, trí lực và tâm lực. Trong ba mặt thể lực, trí lực, tâm lực thì thể lực là nền tảng, là cơ sở để phát triển trí lực; tâm lực là yếu tố chi phối hiệu quả hoạt động chuyển hóa của trí lực vào thực tiễn. Nhằm mục đích khái quát và thể hiện nghiên cứu tổng quan về các tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực, tác giả xin tóm tắt nghiên cứu thông qua bảng sau: Bảng 1.1: Một số tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực của tổ chức Stt Tiêu chí Nội dung - Tác phong làm việc - Ý thức kỷ luật 1 Tâm lực - Tinh thần trách nhiệm và thái độ trong công việc - Đạo đức nghề nghiệp và tinh thần hợp tác - Tính chủ động, sáng tạo - Trình độ văn hóa - Trình độ chuyên môn, kỹ thuật 2 Trí lực - Độ lành nghề - Kiến thức chung - Tình trạng sức khỏe thể chất 3 Thể lực - Tình trạng sức khỏe tinh thần (Nguồn: Tổng hợp nghiên cứu của CHV) 14 1. Tâm lực và nâng cao tâm lực 1.
Tâm lực Tâm lực là sức mạnh tâm lý của con người. Tâm lực cao hay thấp thể hiện ở mức độ nhận thức, ý thức trách nhiệm về động cơ làm việc, ý chí phấn đấu, thái độ và tác phong làm việc, kỷ luật lao động, tính tự lập trong thực thi nhiệm vụ, tinh thần hợp tác tương trợ, khả năng làm việc tập thể và lòng trung thành với doanh nghiệp. Tâm lực phản ánh nhân cách, thẩm mỹ, quan điểm sống, thể hiện nét văn hóa của người lao động. Trong mối quan hệ tương tác với các yếu tố cấu thành nguồn nhân lực, trình độ phát triển nhân cách, đạo đức đóng vai trò quan trọng, vì nó đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt hơn không chỉ với chức năng kinh tế mà còn với chức năng xã hội và là cơ sở tâm lý cho việc nâng cao năng lực sáng tạo của họ trong lao động.
Trong doanh nghiệp, để nâng cao tâm lực trước tiên phải xây dựng một môi trường làm việc thoải mái nhưng vẫn phải đảm bảo có tính kỷ luật cao, tác phong lao động công nghiệp, thưởng phạt công minh, rõ ràng và công bằng với mọi đối tượng để khuyến khích tinh thần lao động của nhân viên. Nâng cao tâm lực của nhân lực còn là môi trường làm việc dân chủ, thu hẹp khoảng cách của người quản lý và nhân viên, giữa nhân viên với nhân viên để tạo tăng tính đoàn kết, tinh thần hợp tác, có trách nhiệm cao trong công việc mà họ đảm nhận… Như vậy, cùng với tiến trình phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi người lao động phải có phẩm chất tâm lý như sau: - Có ý thức kỷ luật, tự giác cao, có tác phong nhanh nhẹn, khẩn trương, đúng giờ.