CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Nguồn nhân lực và chất lượng Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp * Nguồn nhân lực: Hiện nay, do có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên có không ít những quan điểm xoay quanh khái niệm về Nguồn nhân lực. Theo quan điểm của các nhà khoa học Việt Nam, nguồn nhân lực được xem là: “Số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất, tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất, thái độ và phong cách lao động”[7, tr128].
Có quan điểm cho rằng, nguồn nhân lực là tổng hợp các cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động [6, tr63]. Nguyễn Tiệp, nguồn nhân lực là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội [13, tr8]. Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của Trường đại học Kinh Tế Quốc Dân do PGS.TS Trần Xuân Cầu, PGS.TS Mai Quốc Chánh chủ biên (2008): “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”[12, tr27]. Trong phạm vi khuôn khổ luận văn, tác giả xin được sử dụng khái niệm nguồn nhân lực như sau: “Nguồn nhân lực là toàn bộ các khả năng về thể lực 9 và trí lực, phẩm chất của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất, đang và sẽ sẵn sàng tham gia vào sự phát triển kinh tế - xã hội”.
* Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp: Nguồn nhân lực của doanh nghiệp bao gồm các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. “Nguồn nhân lực trong Doanh nghiệp là nguồn lực con người, là vốn nhân lực của DN bao gồm những người đang làm việc thực tế trong DN và nguồn nhân lực tiềm năng mà DN đang hướng tới trong kế hoạch hóa nguồn nhân lực” [12, tr7]. Đối với nguồn nhân lực ở mỗi DN và trong mỗi ngành kinh tế cũng vậy đều có những cơ cấu chung nhất định, đó là cơ cấu về giới tính, về trình độ văn hóa, trình độ CMKT, hay là trình độ về ngành nghề, lĩnh vực. Tùy mỗi loại hình, mỗi ngành nghề kinh tế mà người sử dụng nhân lực phải biết hoạch định cho sự phù hợp với DN của mình.
Mặt khác, người sử dụng lao động phải không ngừng quan tâm, bồi dưỡng nguồn nhân lực của mình ngày càng chất lượng, phải có yếu tố thúc đẩy giúp người lao động tái sản xuất sức lao động, phải tạo cơ hội đào tạo và phát triển cho họ, phải tạo ra môi trường làm việc và an toàn nhất để họ có thể yên tâm và phát huy tốt năng lực của mình trong lao động sản xuất. Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp * Chất lượng nguồn nhân lực Theo quan điểm của TS. Phan Thanh Tâm thì chất lượng nguồn nhân lực được định nghĩa: “Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hòa của cả 3 yếu tố: Trí lực, thể lực và phẩm chất của người lao động”[21, tr37].TS Mai Quốc Chánh, TS.Trần Xuân Cầu: “ Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của Nguồn nhân lực” [12, tr9]. 10 Do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau nên đến nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này.
Tuy nhiên, tác giả có đồng quan điểm với TS. Phan Thanh Tâm và xin đi sâu hơn về định nghĩa này như sau: Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hoà của 3 yếu tố: Tình trạng sức khỏe; trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật và phẩm chất của người lao động. Chất lượng nguồn nhân lực có thể được nhìn nhận dưới 2 góc độ. Thứ nhất, về góc độ của một tập hợp gồm nhiều người, khi đó có thể vận dụng những khái niệm về chất lượng nguồn nhân lực của một lãnh thổ (quốc gia, vùng, tỉnh, huyện hay một tổ chức).
Thứ hai, về góc độ đối với từng con người cụ thể, có thể hiểu chất lượng nguồn nhân lực gồm tất cả những đặc tính, yếu tố năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi hoạt động để tạo ra một giá trị sử dụng nào đó. Tất cả những yếu tố đặc trưng đó đều được đánh giá, so sánh trong thế động, thế tương đối trong việc so sánh với mục tiêu đặt ra và mức độ đáp ứng nhu cầu trong từng giai đoạn cụ thể, từng nhóm đối tượng và trường hợp cụ thể. * Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp chất lượng nguồn nhân lực chính là chất lượng đội ngũ lao động trong doanh nghiệp. Chất lượng đội ngũ lao động là cơ sở phản ánh trình độ phát triển của doanh nghiệp và chất lượng này phụ thuộc vào từng thành viên trong đội ngũ đó thể hiện ở tình trạng sức khỏe, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, phẩm chất đạo đức, sự hiểu biết chính trị xã hội… Theo những phân tích trên về chất lượng NNL trong doanh nghiệp, tác giả có đồng quan điểm của PGS.TS Vũ Thị Mai-Trưởng bộ môn QTNL trường Đại học kinh tế quốc dân: “ Chất lượng nguồn nhân lực trong Doanh nghiệp là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động (thể lực- trí lực-tinh thần) so với yêu cầu công việc cụ thể đặc trưng của doanh nghiệp).
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là sự tăng cường kỹ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất và năng lực tinh thần của lực lượng lao động lên đến một trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong những giai đoạn phát triển của một quốc gia, một doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là tạo ra tiềm năng của con người thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khoẻ về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động thông qua việc tuyển dụng, sử dụng, tạo điều kiện về môi trường làm việc (phương tiện lao động có hiệu quả và các chế độ chính sách hợp lý,…) môi trường văn minh, xã hoá, xã hội kích thích động cơ, động thái làm việc của NLĐ, để họ mang hết sức mình hoàn thành các chức trách, nhiệm vụ được giao. Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu, tác giả xin được sử dụng khái niệm sau: “ Nâng cao chất lượng NNL trong doanh nghiệp chính là nâng cao mức độ đáp ứng về khả năng sáng tạo, năng lực thể chất và năng lực tinh thần của NLĐ để lực lượng này có thể hoàn thành nhiệm vụ phát triển của doanh nghiệp”. Nội dung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực cao hay thấp phải được đánh giá thông qua những yếu tố tạo thành chất lượng nguồn nhân lực (thể lực, trí lực và tâm lực) trong mối tương quan so sánh với những chuẩn mực nhất định.
Thể lực 12 Thể lực của nguồn nhân lực được hình thành và phát triển bằng con đường di truyền (nòi giống), nuôi dưỡng và luyện tập, rèn luyện thân thể thông qua thể dục, thể thao và các hoạt động lao động sản xuất. Thể lực là sự phát triển hài hoà của con người cả về thể chất và tinh thần (sức khoẻ tinh thần, sức khoẻ cơ thể và sức khoẻ xã hội). Các hoạt động để duy trì và nâng cao thể lực bao gồm: Đảm bảo sức khoẻ cho người lao động (Khám sức khoẻ định kỳ, bữa ăn ca, chế độ nghỉ phép, tham quan, du lịch, chế độ ốm đau, hoạt động thể thao,…); Đảm bảo y tế (môi trường vệ sinh; chăm sóc sức khoẻ ban đầu, chế độ dinh dưỡng, khám chữa bệnh, thể dục, thể thao,…); Cải thiện điều kiện làm việc (định kỳ phải điều tra, khảo sát để kịp thời cải thiện điều kiện làm việc); Xây dựng chế độ làm việc nghỉ ngơi hợp lý; Điều chỉnh chế độ tiền lương,thưởng hợp lý so với thị trường lao động (đảm bảo cho nhóm những lao động có mức lương thấp nhất phải đủ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tối thiểu); Ngoài ra, phải tạo điều kiện cho người lao động có điều kiện được thể hiện mình trước xã hội (được giao lưu, học hỏi, được khẳng định bản thân). Như vậy, nếu các hoạt động nêu trên được các doanh nghiệp quan tâm, thực hiện đúng mức sẽ phát huy được sức mạnh của nguồn nhân lực giúp tái sản xuất và nâng cao năng suất lao động.
Đối với yếu tố thể lực, xác định đánh giá chất lượng thông qua: - Con đường khảo nghiệm thực tế như cân đo, thực hiện các kiểm tra về sức khoẻ (mắt, mũi, tim phổi…). - Đánh giá trên chỉ tiêu cơ sở vật chất và điều kiện bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ (Đảm bảo tốt y tế, môi trường làm việc, cải thiện điều kiện lao động; Đảm bảo tiền lương; Chế độ làm việc nghỉ ngơi). 13 Theo tổ chức Y tế thế giới thì “Sức khỏe là trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ đơn thuần là cơ thể khỏe mạnh không có bệnh tật”. Như vậy, chúng ta hiểu tiêu chí để đánh giá sức khoẻ gồm 3 mặt: Sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, sức khỏe xã hội.
Sức khỏe thể chất được thể hiện một cách tổng quát sự sảng khoái và thoải mái về thể chất, là: Sức lực, sự nhanh nhẹn, sự dẻo dai, khả năng chống đỡ được các yếu tố gây bệnh, khả năng chịu đựng được những yếu tố khắc nghiệt của môi trường. Sức khoẻ tinh thần là sự thoải mái về mặt giao tiếp xã hội, tình cảm và tinh thần. Sức khỏe xã hội là sự hòa nhập của cá nhân với cộng đồng. Nó thể hiện ở sự chấp nhận và tán thành của xã hội.
Ba yếu tố sức khỏe liên quan chặt chẽ với nhau. Nó là sự thăng bằng hài hòa của tất cả những khả năng sinh học, tâm lý và xã hội của con người. Có nhiều chỉ tiêu biểu hiện về trình trạng sức khỏe. Theo quy định chung của các doanh nghiệp hiện nay gồm 4 loại: A: Thể lực tốt, không có bệnh tật gì.
B: Thể lực khá.