đặt vấn đề con người vào trung tâm của sự phát triển bằng các triết lý nhân sự mang tính dân tộc, biết sử dụng nguồn lực con người thông qua các thành tựu khoa học công nghệ và đã nhanh chóng bứt lên trở thành cường quốc kinh tế thứ hai trên thế giới. Do vậy, không phải ngẫu nhiên các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định: lịch sử phát triển chân chính của xã hội là lịch sử phát triển con người, do con người và vì con người. Tiến trình phát triển lịch sử được 17 quyết định bởi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong đó người lao động ngày càng trở thành yếu tố quan trọng hàng đầu. Nhận thức sâu sắc về vai trò của con người trong chiến lược phát triển KT - XH, Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Sự nghiệp phát triển kinh tế đặt con người vào vị trí trung tâm, thống nhất tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhiều lần khẳng định mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người. Vì vậy, chiến lược ổn định và phát triển KT - XH, xét về thực chất là chiến lược con người. ″Nâng cao dân trí, bồi dưỡng, phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH đất nước" [11, tr. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục xác định: “nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực được coi là một trong ba khâu đột phá để làm chuyển động toàn bộ tình hình KT - XH. Từ vai trò của nguồn lực con người đối với sự phát triển KT - XH, vấn đề tất yếu đặt ra là phải phát huy được nguồn lực con người. “Phát huy” là làm cho cái hay, cái tốt toả tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm. Theo đó phát huy nguồn nhân lực chính là nâng cao vai trò của nguồn lực con người trong sự phát triển KT - XH, qua đó làm gia tăng giá trị của con người.
Để hiểu rõ hơn vấn đề này, cần phân biệt khái niệm ″nguồn lực con người" với ″nhân tố con người". Trước hết, ″nguồn lực con người" và ″nhân tố con người" có cùng nghĩa như nhau khi đặt trong quan hệ với các nhân tố khác, nguồn lực khác (nguồn lực vật chất) ở chỗ chúng đều biểu hiện những đặc trưng, thuộc tính cơ bản của con người như: là nhân tố hoạt động, sống, khả năng tái sinh, tiềm năng vô tận của trí tuệ, tinh thần con người. Do đó, phát huy nhân tố con người có thể hiểu như là phát huy nguồn lực con người, khi con người trở thành một điều kiện, một tiềm năng cần phát huy để tạo ra động lực phát triển của một quá trình xã hội. Điểm khác nhau giữa hai khái niệm này: ″nguồn lực con người" được coi là khái niệm công cụ cơ bản để xây dựng chiến lược phát triển KT - XH, theo 18 quan điểm hệ thống phải đặt nó trong mối quan hệ với các nguồn lực khác.
Nó biểu hiện khả năng và phẩm chất của lực lượng lao động cả về mặt số lượng và chất lượng. Còn ″nhân tố con người" là cái cốt lõi, đặc trưng xã hội, giữ vị trí trung tâm trong tiềm năng của nguồn lực con người, phản ánh bản chất xã hội, mặt chất lượng của nguồn lực con người, nhấn mạnh tính chất tích cực, tự giác, sáng tạo của nguồn lực con người trong quan hệ với thể lực, kinh nghiệm thói quen của chủ thể. Thực chất của việc phát huy nhân tố con người là hướng mỗi cá nhân, đề cao tính độc lập, tự chủ, sáng tạo của cá nhân hoặc đặt con người vào đúng vị trí của nó để con người có cơ hội bộc lộ mình cống hiến cho sự phát triển. Nhưng chúng ta chỉ hiểu được khái niệm nhân tố con người khi đặt nó trong hoạt động thực tiễn mà hoạt động bản thân là hoạt động lao động.
Vì vậy, khi nhấn mạnh hệ thống các chỉ số về chất lượng lao động thì khái niệm nguồn lực con người là sự cụ thể hoá của khái niệm nhân tố con người. Tuy nhiên, ″phát huy nguồn lực con người" xét theo quan điểm đầu tư cho sự phát triển KT - XH bao hàm nghĩa rộng hơn ″phát huy nhân tố con người". Phát huy nguồn lực con người thể hiện ở ba mặt: phát triển nguồn nhân lực, sử dụng nguồn nhân lực và nuôi dưỡng môi trường cho nguồn nhân lực. Điều đó liên quan đến hàng loạt vấn đề từ việc nuôi dưỡng, giáo dục - đào tạo đến việc tổ chức khai thác, sử dụng nguồn nhân lực; từ việc phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của mỗi cá nhân đến việc tạo môi trường xã hội thuận lợi cho sự cống hiến và hưởng thụ của con người; từ việc nâng cao năng lực và phẩm chất của người lao động với tư cách là chủ thể nhận thức và hoạt động thực tiễn trong quá trình phát triển KT - XH đến khâu khai thác hợp lý, có hiệu quả trí lực, thể lực, tâm lực của họ với tư cách là khách thể của sự khai thác; từ việc sử dụng con người với tư cách là một nguồn lực, động lực cho sự phát triển đến việc chăm lo cho con người với tư cách là mục tiêu của sự phát triển KT - XH.
Những vấn đề trên nếu được thực hiện tốt sẽ phát huy được vai trò của nguồn lực con người trong quá trình phát triển KT - XH. Trong bối cảnh ngày nay, vấn đề CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế của các quốc gia là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong xu thế toàn cầu hóa. Quá trình CNH, HĐH đã được các nước phát triển thực hiện thành công và các nước đang phát triển đang trong quá trình đẩy nhanh tiến trình này. Hiện 19 nay, trên phạm vi toàn cầu, khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, làm thay đổi vượt bậc trên tất cả các mặt của đời sống con người.
Việt Nam khẳng định con đường phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội, từng bước hiện đại hóa nền kinh tế là một nhiệm vụ trung tâm của quá trình phát triển đất nước. Định hướng phát triển trong giai đoạn cách mạng mới - giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH, nâng cao năng lực cạnh tranh và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta là xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa với mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Vấn đề nguồn nhân lực hiện đang là một vấn đề trung tâm cần giải quyết cho quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “.Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH.
Nguồn lực con người là điểm cốt yếu nhất của nội lực, do đó phải bằng mọi cách phát huy yếu tố con người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực (Human Resources) là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của quá trình tăng trưởng kinh tế của mọi quốc gia. Nguồn nhân lực được xác định trong một thời gian và không gian nhất định của một quốc gia, vùng, lãnh thổ, địa phương. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác (vốn, khoa học - công nghệ và tài nguyên thiên nhiên) ở chỗ nó có khả năng hoạt động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi thế giới tự nhiên.
Trong quá trình lao động làm nảy sinh các mối quan hệ lao động và quan hệ xã hội, nguồn nhân lực của một quốc gia được hiểu hiện trên hai khía cạnh sau: - Nguồn nhân lực là yếu tố đầu vào, nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Nguồn nhân lực có thể hiểu là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động) của một quốc gia, vùng, lãnh thổ và địa phương. Tiềm năng đó bao hàm tổng hòa năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách của con người (lao động) của một quốc gia (vùng, lãnh thổ), đó chính là tiềm năng của người lao động về số lượng, chất lượng và cơ cấu. 20 - Với tư cách là khả năng đảm đương lao động chính của xã hội thì nguồn nhân lực bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động theo luật định.
Theo cách hiểu này thì khái niệm nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động. Nguồn nhân lực được hiểu là tổng hòa trong thể thống nhất hữu cơ giữa năng lực xã hội của con người (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người. Theo quy định của Tổng cục Thống kê thì nguồn nhân lực - dùng trong thống kê thị trường lao động gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm (lao động đang làm việc) và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang ở trong các tình trạng sau đây: - Đang thất nghiệp; - Đang đi học; - Đang làm nội trợ trong gia đình mình; - Không có nhu cầu làm việc; - Những người thuộc tình trạng khác chưa tham gia lao động. Phát triển nguồn nhân lực Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển nguồn nhân lực.
Theo UNESCO, phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước. Các nhà kinh tế có quan niệm phát triển nguồn nhân lực gần với quan niệm của UNESCO là phải gắn với sản xuất, và chỉ nên giới hạn phát triển nguồn nhân lực trong phạm vi phát triển kỹ năng lao động và thích ứng với yêu cầu về việc làm. Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là kỹ năng lao động, vấn đề đào tạo nói chung mà còn đề cập đến phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.