đặt vấn đề xem xét lại vai trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế xã hội. Kinh nghiệm của Nhật Bản, một nước sớm nhận thức tầm quan trọng của nguồn nhân lực đã có chiến lược về phát triển con người từ thế kỷ XVII - XVIII, và sau đó vào những năm cuối của thế kỷ XX, với sự xuất hiện của các nước công nghiệp mới ở châu Á (NICs) đã chứng minh một lần nữa vị trí quan trọng của nguồn nhân lực trong sản xuất kinh doanh, vì thế, có những bước phát triển mới. Cũng từ đó, khái niệm nguồn nhân lực (Human Resources) được sử dụng rộng rãi, với ý nghĩa là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau.
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển Kinh tế - Xã hội trong một cộng đồng. 6 Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều so với các nguồn lực khác bởi con người là một thực thể sinh vật - Xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ. Theo David Begg: Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai.
Ở nước ta, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới. Điều này được thể hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực. Theo Nguyễn Văn Chiều (2019), nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư, chất lượng con người (bao gồm thể lực, trí lực và năng lực phẩm chất). Như vậy, nguồn nhân lực không chỉ bao hàm chất lượng nguồn nhân lực hiện tại mà còn bao hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai.
Theo Đặng Quốc Bảo (2017): Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội. Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ.
Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người. Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao 7 động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn. Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (Thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các nhóm đó, nhờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu cầu phát triển. Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng rãi bao gồm các yếu tố cấu thành về số lượng, tri thức, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tính năng động xã hội, sức sáng tạo, truyền thống lịch sử và văn hoá.
Như vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội. Từ những sự phân tích trên, ở dạng khái quát nhất, có thể hiểu: Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực Có thể nhận thấy chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng khi đề cập đến vấn đề nguồn nhân lực.
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua các tiêu chí: sức khoẻ, trình độ chuyên môn, trình độ học vấn và phẩm chất tâm lý xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái trí lực, thể lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực. Chất 8 lượng nguồn nhân lực do trình độ phát triển kinh tế xã hội và chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực của chính phủ quyết định (Đinh Quang Báo, 2015). Vai trò, mục tiêu của nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 1.
Vai trò của nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng với sự phát triển của tổ chức cũng như xã hội (Nguyễn Văn Chiều, 2019): - Giúp tăng năng suất lao động: Nguồn nhân lực chất lượng giúp tổ chức nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động. Từ đó, nhân sự được nâng cao cơ hội tiếp cận với nền công nghệ hiện đại, tiên tiến và nâng cao hiệu quả công việc. - Tiết kiệm chi phí đào tạo: Nhân lực có chất lượng cao thường có kiến thức chuyên môn tốt, các kỹ năng phục vụ công việc cùng thành thạo. Việc lựa chọn được nhân sự có tay nghề cao sẽ giúp tổ chức tiết kiệm chi phí tuyển dụng, đào tạo.
Họ sẽ nhanh chóng làm việc tốt và tạo ra được những kết quả đột phá trong hoạt động. - Nâng cao cuộc sống, xã hội phát triển: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giúp tạo ra nhiều giá trị cho tổ chức. Từ đó, người lao động sẽ có mức thu nhập tốt hơn, xã hội phát triển, hiện đại và văn minh. Mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực - Giúp người lao động thực hiện công việc tốt hơn; - Cập nhật thông tin, kỹ năng; - Thay đổi và cập nhật phương pháp quản lý; - Giải quyết các vấn đề tổ chức; - Hướng dẫn công việc cho nhân viên mới; - Chuẩn bị đội ngũ kế cận; - Thỏa mãn nhu cầu phát triển cho người lao động.
Vị trí, vai trò của giáo dục Trung học cơ sở và người giáo viên trung học cơ sở 1. Vị trí, vai trò của giáo dục Trung học cơ sở Trường THCS nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, là một bộ phận trong hệ thống giáo dục phổ thông và là một điểm chiến lược phát triển GD&ĐT. Đại hội IX của Đảng đề ra đường lối phát triển GD&ĐT: “phát triển giáo dục Mầm non, củng cố vững chắc kết quả xóa mù chữ và phổ cập Trung học cơ sở trong cả nước…”. Bậc THCS được xem là cầu nối giữa bậc tiểu học và THPT, là mắt xích quan trọng trong hệ thống giáo dục phổ thông hoàn chỉnh (vừa tiếp nối, vừa chuyển tiếp).
THCS có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với lứa tuổi 11- 15, một lứa tuổi mang nét đặc biệt về sự phát triển sinh lý, tâm lý, xã hội của mỗi con người mà tương lai của mỗi người lại phụ thuộc chủ yếu vào giai đoạn hình thành nhân cách này. Như vậy, giáo dục THCS có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng mặt bằng dân trí, là bước cơ bản để chuẩn bị tri thức khoa học, hình thành nhân cách để học sinh sau khi tốt nghiệp có thể tiếp tục học lên hoặc trực tiếp tham gia lao động sản xuất, có đủ bản lĩnh góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước. Vị trí, vai trò của người giáo viên Trung học cơ sở a) Giáo viên và chất lượng giáo viên GV là lực lượng cơ bản nhất của nguồn nhân lực ngành giáo dục- một bộ phận quan trọng trong nguồn nhân lực quốc gia. Khoản 1, Điều 70 Luật Giáo dục năm 2019 qui định: Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác.
Cũng thuộc điều 70 Luật này, khoản 3 chỉ rõ: Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên. Chất lượng giáo dục, dạy học của GV được đánh giá qua kết quả giảng dạy, giáo dục, sự tiếp thu kiến thức của học sinh mà sản phẩm cuối cùng là năng 10 lực, nhân cách của người học. Chất lượng giáo dục phải hướng vào “phát triển học sinh”, “phát triển nguồn nhân lực”. Việc đánh giá chất lượng dạy học của GV có thể thông qua trực tiếp dự giờ, chất lượng làm bài kiểm tra, thi, kết quả học tập của học sinh.
Vai trò định hướng, hướng dẫn, gợi ý để học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức rất có ý nghĩa. GV không phải là người nhồi nhét kiến thức, không phải dạy tất cả những gì có sẵn mà hãy làm tốt vai trò của người thiết kế, đưa ra ý tưởng, gợi ý để học sinh tự tìm kiếm hướng đi và lời giải. Đồng thời, phải coi quá trình dạy học là quá trình dạy - tự học. Chất lượng GV là nhân tố quyết định chất lượng nhà trường.
Trạng thái chất lượng của GV mạnh hay yếu, GV có đáp ứng được yêu cầu hay không, phụ thuộc rất nhiều vào quy mô số lượng GV, sự đồng bộ của GV, năng lực, phẩm chất của mỗi GV trong đội ngũ. Có thể nói, khái niệm chất lượng GV vừa “tĩnh” lại vừa “động”.