Chương 1: GIỚI THIỆU Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về cơ sở lý thuyết 2. Khái niệm về dịch vụ thanh toán quốc tế của Ngân hàng thương mại Ngày nay, việc trao đổi các hoạt động kinh tế và thương mại giữa các quốc gia làm phát sinh các khoản thu chi của nước này đối với một nước khác trong từng giao dịch hoặc trong từng định kỳ chi trả. Dịch vụ thanh toán quốc tế đã ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán đó và các ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian tài chính cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế cho các chủ thể sử dụng.
Dịch vụ thanh toán quốc tế là một khái niệm được kết hợp bởi hai thuật ngữ “dịch vụ” và “thanh toán quốc tế”. Vì vậy, để có thể hiểu về khái niệm của dịch vụ thanh toán quốc tế cần làm rõ từng yếu tố thành phần. Theo Philip Kotler và Armstrong (2001) định nghĩa về dịch vụ : “Dịch vụ là bất kỳ hành động hay lợi ích nào một bên có thể cung cấp cho bên khác mà về cơ bản là vô hình và không đem lại sự sở hữu nào cả. Sản phẩm của nó có thể có hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”.
Theo Nguyễn Văn Ngọc (2006) thì: “Dịch vụ là sản phẩm vô hình như dịch vụ bán lẻ, vận chuyển, du lịch, ngân hàng, bảo hiểm v., khác với hàng hóa là sản phẩm có hình dạng cụ thể. Tuy không có một hình thức vật chất cụ thể, nhưng dịch vụ cũng đóng góp vào việc thỏa mãn nhu cầu của con người như các hàng hóa thông thường khác. Trong hệ thống hạch toán thu nhập quốc dân, dịch vụ là một thành tố quan trọng của tổng sản phẩm trong nước. “Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau.
Mục đích của việc tương tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi, cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng” theo (Bùi Nguyên Hùng, 2004). Nguyễn Văn Tiến (2017), thanh toán quốc tế là việc thực hiện nghĩa vụ chi trả và quyền lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với các tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một 8 quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan. Đinh Xuân Trình (2012), thanh toán quốc tế là việc thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh có liên quan tới các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa các tổ chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nước. Theo đó, định nghĩa hẹp về dịch vụ thanh toán quốc tế đứng từ giác độ của ngân hàng thương mại thì dịch vụ thanh toán quốc tế là loại hình dịch vụ điển hình của ngân hàng thương mại cung ứng cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nhằm mục đích thu phí.
Như vậy, qua các cách định nghĩa như trên, có thể thấy khái niệm về dịch vụ thanh toán quốc tế bao gồm đối tượng sử dụng dịch vụ là các tổ chức và cá nhân. Tuy nhiên, các ngân hàng có xu hướng cung cấp đa dạng sản phẩm, dịch vụ thanh toán quốc tế cho đối tượng chủ yếu là khách hàng doanh nghiệp. Do vậy, trong phạm vi đề tài nghiên cứu tác giả rút ra khái niệm về dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại là các dịch vụ liên quan đến nhận, gửi, thông báo, kiểm tra, xử lý bộ chứng từ XNK, chuyển trả tiền, thu hộ tiền. phục vụ các khách hàng doanh nghiệp có hoạt động XNK theo các phương thức thanh toán quốc tế khác nhau.
Đặc điểm của dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại Thanh toán quốc tế là một mảng dịch vụ đặc biệt của Ngân hàng và mang các đặc điểm rất đặc thù: - Quy mô giao dịch của dịch vụ thanh toán quốc tế có số lượng lớn và giá trị của mỗi khoản giao dịch khá nhiều. Giao dịch được tiến hành thông qua ngân hàng và không dùng tiền mặt. Các ngân hàng thương mại muốn đạt được doanh thu lớn từ dịch vụ này thì cần thiết phải nâng cao năng lực phục vụ cũng như có những chính sách ưu đãi đặc biệt hướng đến từng đối tượng khách hàng mục tiêu. - Thanh toán quốc tế chịu sự điều chỉnh của luật pháp và tập quán quốc tế.
Thanh toán quốc tế là hoạt động đặc thù trên phạm vi quốc tế, do đó, chịu sự điều chỉnh của các nguồn luật quốc tế và các quốc gia liên quan. Hoạt động thanh toán quốc tế chịu sự điều chỉnh của các hệ thống văn bản pháp lý theo thứ tự ưu tiên 9 giảm dần: (i) Các nguồn luật và công ước quốc tế; (ii) Hiệp định đa biên và song biên; (iii) Các nguồn luật quốc gia; (iv) Thông lệ và tâp quán quốc tế (UCP, URC, INCOTERMS. - Sản phẩm dịch vụ thanh toán quốc tế vô cùng đa dạng, được phát triển dựa trên nền tảng của hệ thống công nghệ hiện đại. Dịch vụ ngân hàng hiện đại phát triển có thể nói là nhờ sự đóng góp rất lớn của công nghệ, chúng góp phần gia tăng tính tiện ích của các sản phẩm và dịch vụ.
Ngày nay, khách hàng có thể sử dụng dịch vụ ngân hàng ở bất cứ nơi đâu và bất kỳ thời gian nào, giúp tiết giảm tối đa thời gian giao dịch. - Dịch vụ thanh toán quốc tế có độ rủi ro cao hơn so với thanh toán trong nước do sự biến động của các yếu tố như tiền tệ, tình hình chính trị xã hội của quốc gia. Tuy nhiên, việc quản trị rủi ro đối với dịch vụ thanh toán quốc tế được sự hỗ trợ từ công nghệ nên không phức tạp như các dịch vụ khác, tạo điều kiện để ngân hàng phát triển bền vững. - Thanh toán quốc tế chịu ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái.
Trong thanh toán quốc tế, đồng tiền thanh toán chủ yếu là ngoại tệ đối với ít nhất một trong hai bên mua/bán (trừ khu vực sử dụng đồng tiền chung), do đó, giá trị của giao dịch chịu ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái tại thời điểm thực hiện giao dịch thanh toán quốc tế. - Ngôn ngữ chủ yếu dùng trong thanh toán quốc tế là Tiếng Anh. Vai trò dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại 2. Đối với nền kinh tế Đinh Xuân Trình (2012), TTQT là cầu nối giữa kinh tế trong nước với kinh tế thế giới bên ngoài, có tác dụng bôi trơn và thúc đẩy hoạt động XNK hàng hóa và dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút kiều hối và các quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác.
Dịch vụ thanh toán quốc tế được sử dụng đem lại nhiều lợi ích cho các chủ thể trong nền kinh tế, gia tăng hiệu quả kinh doanh khi các giao dịch đều được thực hiện qua ngân hàng. Từ đó góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tiêu dùng. Đồng thời, dưới góc độ quản lý của Nhà nước cũng có lợi ích rất lớn khi các hoạt động trong nền kinh tế được kiểm soát qua ngân hàng, hạn chế được các hành vi gian 10 lận, trốn thuế, tham nhũng,. góp phần tích cực vào quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Dịch vụ thanh toán quốc tế góp phần huy động nguồn lực hiệu quả để phát triển đất nước. Kết hợp với các hoạt động chi trả kiều hối, chuyển tiền cá nhân và kinh doanh ngoại tệ, dịch vụ thanh toán quốc tế đã huy động không chỉ nguồn lực trong nước mà còn là các nguồn lực từ nước ngoài, tạo điều kiện phát triển kinh tế đất nước. Đối với ngân hàng Đinh Xuân Trình (2012), TTQT là một dịch vụ ngày càng quan trọng của NHTM, nó đem lại nguồn thu đáng kể không những về số tuyệt đối mà cả về tỷ trọng. TTQT còn là một mắc xích quan trọng trong việc chắp nối và thúc đẩy phát triển các hoạt động khác của ngân hàng như kinh doanh ngoại tệ, tài trợ xuất nhập khẩu, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tăng cường vốn huy động, đặc biệt là vốn bằng ngoại tệ; tăng quy mô hoạt động của ngân hàng; tăng cường khả năng cạnh tranh của ngân hàng; giúp cho hoạt động ngân hàng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia và hòa nhập với hệ thống ngân hàng thế giới.
Đối với khách hàng Dịch vụ thanh toán quốc tế giúp khách hàng thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của mình thông qua việc đem đến sự tiện lợi, an toàn, tiết kiệm trong quá trình thanh toán và sử dụng nguồn vốn, giúp cải thiện đời sống, giảm chi phí xã hội. Đồng thời, thông qua các dịch vụ thanh toán quốc tế, các doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của mình. Dịch vụ thanh toán quốc tế giúp họ tiếp cận được những phương thức thanh toán tốt, là tiền đề để họ phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả đầu tư. Các phương thức chủ yếu của dịch vụ thanh toán quốc tế Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu thuộc ba nhóm, sắp xếp tăng dần theo mức độ tham gia của ngân hàng là: Phương thức chuyển tiền (Remittance); Phương thức LC (Letter Credit); Phương thức nhờ thu (Collection).
Phương thức chuyển tiền (Remittance) 11 Nguyễn Văn Tiến (2017), chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng (người chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời gian nhất định”. Có hai hình thức chuyển tiền là chuyển tiền bằng thư (Mail transfer, M/T) và chuyển tiền bằng điện (Telegraphic transfer, T/T). Trong phương thức chuyển tiền, ngân hàng chỉ là trung gian thực hiện việc thanh toán theo ủy nhiệm để hưởng thủ tục phí (hoa hồng) và không bị ràng buộc trách nhiệm. Việc trả tiền phụ thuộc vào sự thoả thuận của hai bên.
Vì vậy, quyền lợi của hai bên không được đảm bảo, nên được sử dụng cho các khoản thanh toán tương đối nhỏ và giữa hai đơn vị thân tín.