CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ (TTQT) 1. Khái niệm dịch vụ, dịch vụ thanh toán quốc tế: Dịch vụ là một hình thức sản phẩm bao gồm các hoạt động, các lợi ích hay những sự thỏa mãn để bán ra. Dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành trong dịch vụ tài chính nói chung, có thể cho rằng toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối…của hệ thống ngân hàng đều là hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính cho nền kinh tế. Dịch vụ ngân hàng cũng như các dịch vụ khác đều xuất phát từ nhu cầu của khách hàng và muốn làm thoả mãn nhu cầu đó bằng việc đáp ứng, cung cấp một dịch vụ, để thoả mãn cầu thì cung xuất hiện, cung và cầu bổ sung cho nhau cùng phát triển.
TTQT có thể được định nghĩa với nhiều quan điểm khác nhau: Thứ nhất, ”TTQT là việc thanh toán các nghiã vụ tiền tệ phát sinh có liên quan tới các quan hệ kinh tế, thương mại và các mối quan hệ khác giữa các tổ chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nước” (theo PGS.TS Đinh Xuân Trình (1996)). Thứ hai, “TTQT là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm phục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau” (theo PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương (2006)). Thứ ba, “TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với một tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan”. Dịch vụ TTQT là dịch vụ rất thông dụng và phổ biến hiện nay, do đó hiểu rỏ bản chất của dịch vụ này cũng là cách giúp doanh nghiệp phát triển trong giao dịch mua bán với bạn hàng ở nước ngoài.
123doc 6 Dịch vụ TTQT là tất cả những hoạt động liên quan đến các giao dịch phát sinh của các cá nhân, tổ chức có liên quan đến mua bán hàng hóa, dịch vụ … ở ngoài nước Việt Nam. Trong dịch vụ này ngân hàng có thể thu được nguồn vốn ngoại tệ tạm thời nhàn rỗi của các DN có quan hệ TTQT với ngân hàng dưới hình thức các khoản ký quỹ chờ thanh toán.Đặc điểm cơ bản của dịch vụ và dịch vụ TTQT: -Tính vô hình: KH không thể nhìn, sờ, thử trước khi mua. -Không đồng nhất: việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ… - Không thể tách ly: dịch vụ không thể tách rời khỏi nguồn gốc của nó. -Khó khăn trong việc đo lường, đánh giá sản phẩm tạo ra, đếm số lượng KH được phục vụ nhiều không phải là thước đo để đánh giá chất lượng của dịch vụ đã thực hiện.
Do vậy, đánh giá chất lượng của dịch vụ là không dễ dàng. Ngoài những đặc điểm trên, dịch vụ thanh toán quốc tế còn có thêm đặc điểm:các giao dịch của thanh toán quốc tế đều bên ngoài phạm vi đất nước, nên rất khó khăn nếu có xảy ra các sai sót và tranh chấp với đối tác. Do vậy Cán bộ làm công tác ở lĩnh vực này cần sự cẩn thận hết sức khi tác nghiệp, nhanh nhẹn khi giao tiếp với KH vì múi giờ của mỗi nước là khác nhau, trể một tí là thiệt biết bao nhiêu cho khách hàng. Đồng thời sự am hiểu về luật pháp của nước sở tại, nắm rỏ các thông lệ, tập quán của các quốc gia, thế giới là điều hết sức cần thiết và quan trọng đối với cán bộ làm công tác thanh toán quốc tế tại ngân hàng.
Vai trò của dịch vụ thanh toán quốc tế: .TTQT với vai trò trung gian thanh toán, bảo vệ quyền lợi cho KH, tư vấn, hướng dẫn nhằm hạn chế những rủi ro cho KH; Và TTQT là chất xúc tác, là cầu nối, là điều kiện đảm bảo an toàn và hiệu quả cho các bên tham gia hoạt động XNK.TTQT giúp NH đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của KH về các dịch vụ tài 123doc 7 chính có liên quan tới TTQT. Trên cơ sở đó giúp ngân hàng tăng doanh thu, nâng cao uy ín cho ngân hàng và tạo dựng niềm tin cho KH.TTQT được thực hiện tốt sẽ mở rộng hoạt động tín dụng XNK, phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh ngân hàng trong ngoại thương, tài trợ thương mại và các hoạt động ngân hàng quốc tế khác, làm tăng cường mối quan hệ đối ngoại của ngân hàng. Hoạt động TTQT làm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng.Ngoài ra TTQT còn tạo điều kiện hiện đại hoá công nghệ ngân hàng. Các ngân hàng sẽ áp dụng công nghệ tiên tiến để hoạt động được thực hiện nhanh chóng, kịp thời chính xác, nhằm phân tán rủi ro, góp phần mở rộng quy mô và mạng lưới ngân hàng.Các sản phẩm dịch vụ thanh toán quốc tế (xuất khẩu và nhập khẩu) 1.Chuyển tiền: gồm ứng trước tiền hàng hoá và trả sau khi giao hàng: Chuyển tiền là phương thức thanh toán, trong đó khách hàng (người chuyển tiền) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình, chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) tại ngân hàng người hưởng và trong một thời gian nhất định.
Chuyển tiền bằng điện nhanh hơn rất nhiều so với chuyển tiền bằng thư, nhưng chi phí cao hơn. Phương thức giao chứng từ nhận tiền (CAD hoặc COD) (Cash againstdocuments-Cash on delivery). CAD là phương thức thanh toán mà đơn vị nhập khẩu, trên cơ sở hợp đồng mua bán, yêu cầu NH bên xuất khẩu mở cho mình một tài khoản tín thác (trust account) để thanh toán tiền cho đơn vị xuất khẩu khi họ xuất trình đầy đủ chứng từ thỏa thuận. Nhờ thu: Thường trong nhờ thu, ngân hàng thu hộ không có trách nhiệm như trong phương thức L/C.
Nếu vì một lý do nào đó, không xử lý nhờ thu hoặc bất kỳ chỉ thị nhờ thu nào nhận được, ngân hàng buộc phải thông báo ngay cho người gởi nhờ thu bằng phương tiện nhanh nhất. Các nhờ thu đều phải qua ngân hàng và liên quan ít nhất đến ba 123doc 8 đối tác: ngân hàng, người ủy thác và người trả tiền. Mọi thủ tục đều được điều chỉnh theo Quy tắc nhờ thu: URC 522 là phiên bản hiện hành. Nhờ thu có các loại như nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.Nhờ thu trơn: ngân hàng thu hộ thường giữ lại hối phiếu đã chấp nhận và chỉ điện thông báo về ngân hàng chuyển chứng từ.
ngân hàng gởi nhờ thu séc hay hối phiếu chỉ thanh toán cho người ủy nhiệm sau khi được ghi có tài khoản NOSTRO mở tại ngân hàng thu hộ.Nhờ thu kèm chứng từ: có hình thức chủ yếu là trả ngay và trả chậm. -Điều kiện trả ngay (D/P): là điều kiện thanh toán trả tiền ngay khi chứng từ được xuất trình. Người mua chỉ đánh giá việc thực hiện hợp đồng ngoại thương qua bộ chứng từ tham khảo tại quầy của ngân hàng thu hộ, chưa tiếp cận được hàng hóa khi chưa trả đủ tiền. Người xuất khẩu tin chắc là ngân hàng thu hộ chỉ giao bộ chứng từ khi người mua trả đủ tiền và rồi mình sẽ được ngân hàng thu hộ thanh toán, nếu chứng từ bị từ chối thì mới tốn thêm chi phí thu hồi hay bán cho người khác.
- Điều kiện trả chậm (D/A): là điều kiện thanh toán trả tiền khi đến hạn của hối phiếu trên chứng từ xuất trình. Giống như trong nhờ thu D/P cộng thêm rủi ro trong thanh toán hối phiếu, vì ở đây người bán đã hết quyền sở hữu hàng hóa của mình từ khi người mua chấp nhận hối phiếu nhưng ngân hàng không thể tác động vào việc thanh toán được. Phương thức ủy thác mua (Authority to purchase – A/P): Là phương thức trong đó ngân hàng bên nhà nhập khẩu, theo yêu cầu của nhà xuất khẩu, viết thư cho ngân hàng đại lý tại nước xuất khẩu, yêu cầu ngân hàng này thay mặt họ mua hối phiếu của nhà xuất khẩu ký phát cho nhà nhập khẩu. Ngân hàng đại lý căn cứ vào thư ủy thác, thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu, tức là mua hối phiếu.
Ngân hàng bên nhập khẩu phải có tài khoản NOSTRO hoặc tài khoản ký quỹ tại ngân hàng đại lý ở nước xuất khẩu. L/C là hình thức phổ biến hiện nay. L/C là hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán giữa người mua và người bán. Việc thanh toán L/C không hề căn cứ vào tình hình thực tế của hàng hóa, chỉ căn cứ vào việc xuất trình phù hợp chứng từ theo L/C.
-Có các loại L/C: Thư tín dụng có thể hủy ngang; Thư tín dụng không thể hủy ngang;Thư tín dụng không hủy ngang và có xác nhận;Thư tín dụng tuần hoàn; Thư tín dụng ứng trước; L/C đối ứng;L/C trả dần;Thư tín dụng chuyển nhượng; Thư tín dụng giáp lưng. (chi tiết xem phụ lục 1. Bảo lãnh (trong và ngoài nước) Bảo lãnh ngân hàng là một biện pháp bảo đảm mang tính dự phòng, theo đó, định chế tài chính phát hành (the Guarantor) cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính cho bên nhận bảo lãnh (the Beneficiary) thay cho KH (the Principal) khi KH vi phạm nghĩa vụ đã cam kết. Thư bảo lãnh là hình thức phổ biến hiện nay nhằm ngăn chặn những rủi ro có thể phát sinh.
Thư bảo lãnh vì thế có hiệu lực thực hiện ngay (trước khi làm rõ những bất đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng) một khi phát sinh yêu cầu được bồi thường. Trong hoạt động thương mại, bảo lãnh ngân hàng được xem là loại hình tài trợ, nhằm phòng ngừa những tổn thất cho người thụ hưởng bảo lãnh do có sự vi phạm nghĩa vụ của bên đối tác liên quan. - Phân loại thư bảo lãnh: Trực tiếp;Gián tiếp;Bảo lãnh có điều kiện;Bảo lãnh vô điều kiện;Bảo lãnh đấu thầu;Bảo lãnh thực hiện hợp đồng;Bảo lãnh tiền đặt cọc;Bảo lãnh thanh toán ;Thư tín dụng dự phòng; Bảo lãnh an toàn tín dụng; Bảo lãnh vận đơn; Bảo lãnh thuế quan;Bảo lãnh sai sót trong chứng từ nhờ thu;Bảo lãnh chất lượng và trọng lượng.(Chi tiết: xem phụ lục 1.Bao thanh toán (factoring): BTT 123doc 10 Bao thanh toánngân hànglà thực hiện việc mua lại các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán của người bán hàng để trở thành chủ nợ trực tiếp, đứng ra đòi tiền của người mua hàng. Là một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng cho bên bán hàng.