Chương 1 Những lý luận cơ bản về đãi ngộ nhân sự trong doanh nghiệp thương mại nhà nước 1. Doanh nghiệp thương mại nhà nước và quản trị nhân sự trong doanh nghiệp thương mại nhà nước 1. Doanh nghiệp thương mại nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 1. Khái niệm về DNTMNN Trong xã hội hiện đại, sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế đất nước phụ thuộc rất lớn vào sự lớn mạnh của hệ thống các DN.
DN cung cấp hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội, tạo việc làm và thu nhập của hàng triệu người. DN là một đơn vị sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, thông qua đó để tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng pháp luật của Nhà nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng. Theo luật DN, DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn dịnh, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Xét theo lĩnh vực của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu dùng, DN có thể được phân chia thành DN sản xuất, DNTM, và DN dịch vụ.
DNTM là tổ chức kinh tế hợp pháp chuyên kinh doanh để kiếm lời thông qua hoạt động mua bán hàng hóa hiện vật trên thị trường. DNTM có các đặc trưng sau: 5 Thứ nhất, đối tượng lao động của các DNTM các sản phẩm hàng hoá hoàn chỉnh. Nhiệm vụ của các DNTM không phải là tạo ra các giá trị sử dụng và giá trị mới mà là thực hiện giá trị. Thứ hai, hoạt động của DNTM bao gồm các quá trình kinh tế, tổ chức kỹ thuật.
nhưng mặt kinh tế là chủ yếu. Nhiệm vụ trung tâm của DNTM là thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Thứ ba, việc phân công chuyên môn hoá trong nội bộ từng DN cũng như giữa các DNTM với nhau bị hạn chế hơn nhiều so với các DN sản xuất do phải đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú của các khách hàng. Thứ tư, trong kinh doanh, DNTM có liên hệ rất chặt chẽ trên góc độ kinh tế - xã hội thể hiện rõ nét thông qua tính chất kinh doanh phường hội.
Xét theo sở hữu, DN có hai loại hình chính, đó là DN một chủ sở hữu và DN nhiều chủ sở hữu. DN một chủ sở hữu có DNNN và DN tư nhân. DN nhiều chủ sở hữu bao gồm DN công ty và hợp tác xã. DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công Ých, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế-xã hội do Nhà nước giao.
DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do DN quản lý Như vậy, DNTMNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư một phần hoặc hoàn toàn vốn, thành lập và tổ chức quản lý, kinh doanh thông qua hoạt động mua bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ trên thị trường. Các đặc điểm của DNTMNN. DNTMNN có đầy đủ các đặc trưng của DNTM trên đây. Xét về hình thức sở hữu nhà nước thì DNTMNN còn có thêm các đặc điểm cơ bản sau: 6 - DNTMNN là pháp nhân do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh nhằm thực hiện các mục tiêu về kinh tế - xã hội do Nhà nước giao.
- Có thẩm quyền kinh tế bình đẳng với các DN khác, hạch toán kinh tế độc lập trong phạm vi vốn Nhà nước giao, có trách nhiệm sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển phần vốn được giao. - Giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, được Nhà nước giao chức năng kinh doanh hàng hoá, cung cấp dịch vụ. - Ở Việt Nam, DNTMNN có tên gọi, con dấu riêng và có trụ sở chính đặt trên lãnh thổ Việt Nam với nhiều loại hình như Tổng Công ty, DNTMNN vừa và nhỏ… Hiện nay, các DNTMNN ở nước ta thường có những ưu thế đặc biệt hơn khi so với các loại hình DNTM khác. Điều này thể hiện rõ thông qua thuận lợi trong huy động vốn vay từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng.
do DNTMNN được sự bảo lãnh lớn của Nhà nước hoặc được sử dụng đất đai, nguồn tài nguyên khác của Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ kinh doanh. Đồng thời, các DNTMNN thường nắm vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các lĩnh vực then chốt, quan trọng trong nền kinh tế, có sự hỗ trợ nhất định của Nhà nước trong hoạt động kinh doanh. Trong công cuộc xây dựng đất nước, DNTMNN đã có đóng góp không nhỏ vào sự tăng trưởng chung, khẳng định vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế. Điều này thể hiện thông qua đóng góp vào tổng mức bán lẻ doanh thu và cung ứng dịch vụ chiếm 17,2% tổng mức doanh thu bán lẻ toàn quốc.
Ngoài ra, DNTMNN đã tạo công ăn việc làm cho gần 200 nghìn người lao động. Có được kết quả này không thể không kể tới vai trò của công tác quản trị, nhất là quản trị nhân sự trong DN. Quản trị nhân sự trong DNTMNN 7 1. Khái niệm, vai trò của quản trị nhân sự trong DNTMNN Để tạo nên sự hưng thịnh của một đất nước nói chung, mét DN nói riêng, cần có sự hội tụ của 5 yếu tố (5M).
M1: Máy móc và tài nguyên (Machines & Materials), M2: Phương pháp sản xuất hay là công nghệ (Method or Technology), M3: Nhân lực (Men), M4: Tiền vốn (Money), M5: Nhà quản trị (Manager). Trong đó, yếu tố cơ bản nhất chính là con người (Men & Manager). Điều này cũng đã được Các Mác khẳng định “con người luôn là chủ thể của giới tự nhiên”. Nhận thức được tầm quan trọng đặc biệt của nhân tố con người, các nhà quản trị luôn trăn trở tìm ra phương thức để có thể thu hút, sử dụng, phát triển nhân tố này trong tổ chức mình sao cho đạt hiệu quả nhất.
Đó chính là nội dung của quản trị nhân sự. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản trị nhân sự: Quan niệm 1: Quản trị nhân sự bao gồm toàn bộ những biện pháp, thủ tục áp dụng cho nhân viên của một tổ chức và giải quyết tất cả những trường hợp xảy ra có liên quan đến một loại công việc nào đó.331] Quan niệm 2: Quản trị nhân sự là một nghệ thuật chọn lựa những nhân viên mới và sử dụng những nhân viên cũ sao cho năng suất và chất lượng công việc của mỗi người đều đạt mức tối đa có thể được.331] Quan niệm 3: Quản trị nhân sự chính là chức năng cán bộ. Quản trị nhân sự đi sâu nghiên cứu khai thác mọi tiềm tàng trong mỗi nhân viên, khuyến khích họ làm việc chủ động, sáng tạo với hiệu suất cao, làm việc tận tâm, trung thành với công ty. Mỗi mét quan niệm có cách tiếp cận khác nhau, tuy nhiên, các quan niệm này đều cho rằng quản trị nhân sự là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản trị nói chung.
Quản trị nhân sự gắn liền với mọi tổ chức, bất kể cơ quan đó có phòng hay bộ phận quản trị nhân sự hay không. Quản trị nhân sự 8 trong DN thể hiện mối quan hệ giữa nhà quản trị và người lao động được giải quyết tốt nhất nhằm đạt mục tiêu chung của DN. Từ các cách tiếp cận trên đây có thể rót ra khái niệm chung nhất về quản trị nhân sự trong DN như sau: Quản trị nhân sự là những hoạt động quản trị liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả yếu tố con người đảm bảo cho việc hoàn thành mục tiêu chung của DN một cách tốt nhất. 332] Đối với các DNTMNN, vấn đề quản trị nhân sự quan trọng thể hiện ở việc bố trí nhân sự hợp lý với từng chức năng để phát huy khả năng của từng người sao cho tạo được sự kết hợp thống nhất giữa các khâu mua, bán, dự trữ hàng để mang lại hiệu quả cao trong kinh doanh của DN nhằm phát huy vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường.
Khi nghiên cứu về con người, Stephen R. Covey nói rằng về cơ bản có 3 loại vốn: Vốn vật chất, vốn tài chính và vốn con người. Trong đó quan trọng nhất là con người “bởi vì con người luôn làm chủ vốn vật chất và vốn tài chính”. Con người còn sáng tạo ra vốn vật chất và vốn tài chính.
Sự phát triển hùng mạnh của Nhật Bản từ những thập niên cuối thế kỷ XX đã làm sửng sốt cả thế giới và đã chứng minh được rằng sự thành công của một quốc gia có thể đạt được ngay cả khi không có sự ưu ái của tự nhiên. Bí quyết thành công của Nhật Bản, của các DN Nhật Bản chính nằm ở tinh thần Nhật Bản, nghệ thuật dùng người của Nhật Bản, nghệ thuật quản trị nhân sự ở các DN Nhật Bản Rõ ràng con người là vốn quý giá nhất của mọi tổ chức. Song để sử dụng hiệu quả nguồn lực này thì thật không giản đơn vì mỗi thành viên trong DN có tính cách khác nhau, nhu cầu, ước muốn khác nhau và họ tham gia vào tổ chức với động cơ, mục tiêu khác nhau. Để dung hoà được tập thể đó và làm cho toàn bộ hệ thống DN hoạt động hiệu quả, nhà quản trị phải có những cách 9 thức khác nhau, phải biết khơi dậy lòng nhiệt tình, làm tăng mức độ cống hiến, tạo động lực cho nhân viên.
Sự thành công phụ thuộc vào sự tài tình của nhà quản trị. Bởi vậy mà quản trị nhân sự được coi là khoa học đồng thời cũng là một nghệ thuật. Có thể nói, quản trị nhân sự là chức năng cốt lõi và quan trọng nhất của tiến trình quản trị. Nhà quản trị lập kế hoạch nhưng không thể tự mình hoàn thành kế hoạch được mà phải nhờ những cộng sự của mình- đó là người lao động.
Khi nghiên cứu về quản trị nhân sự, nhà quản trị sẽ biết cách khích lệ nhân viên, tạo sù say mê trong công việc để đạt mục tiêu của mình đồng thời tránh được sai lầm đáng tiếc trong khâu tuyển dụng và sử dụng nhân lực. Trong nền kinh tế thị trường, tính cạnh tranh ngày càng gay gắt, do vậy nhà quản trị phải có sự phân công lao động hợp lý, tìm đúng người, giao đúng việc.