Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TRUYEN HÌNH VÀ CHƯƠNG TRÌNH THỜI SỰ TRUYEN HÌNH 1. Một số khái niệm 1. Truyền hình Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là "ở xa" còn “videre” là "thấy được", còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa.
Ghép hai từ đó lại “Televidere” có nghĩa là xem được ở xa, tiếng Anh là “Television’’. Truyền hình ra đời kéo theo sự xuất hiện hàng loạt các phát minh khoa học vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Theo tác giả Nhật An trong tác phẩm Đường vào nghề phát thanh truyền hình thì năm 1927 là năm đánh dau mốc quan trọng của lịch sử truyền hình thế giới. Lần đầu tiên một chương trình truyền hình giữa New York và Wasington (Mỹ) được dàng dựng, đồng thời phát sóng với quy mô lớn.
Năm 1925, tháp Effel cũng đã được sử dụng cho truyền hình, lần đầu tiên tại Pháp ngoài chức năng du lịch và khoa học. Với sự tiến triển của kỹ thuật, các buổi phát sóng thực nghiệm được tiễn hành trong khoảng thời gian 1935 tới 1939. Năm 1936, một công ty truyền thông ở Anh xây dựng Đài truyền hình trên cung điện Alisanta với thời lượng phát sóng 2 giờ mỗi ngày. Cũng trong năm 1936, nước Đức tô chức truyền hình trực tiếp thế vận hội Olympic khai mạc tại Berlin.
Việc phát sóng truyền hình qua hệ thống điện bắt đầu được áp dụng vào năm 1936 tại Mỹ và Anh, năm 1938 tại Liên Xô, Pháp, Đức, Italia. Năm 1954 có truyền hình màu. Vào thập 17 kỷ 60 của thế kỷ XX, tín hiệu truyền hình được chuyền tải qua vệ tinh nhân tạo đến với nhiều quốc gia, tiếp đó là sự ra đời cảu truyền hình cáp và ngày nay có thêm truyền hình kỹ thuật số, truyền hình qua internet. Có thể thấy rằng, cùng với thời gian, truyền hình đã tạo được những bước tiến không 16 về kỹ thuật, công nghệ, đồng thời tham gia mạnh mẽ vào các hoạt động của đời sống, trở thành kênh truyền thông đại chúng đầy ưu thế.
Truyền hình là một trong những phát minh quan trọng nhất của nhân loại trong thế kỷ XX. Ở nước ta, đến năm 1970 thì truyền hình mới có mặt. Ngày 7/9/1970, Đài Truyền hình Việt Nam chính thức thành lập trong bối cảnh đất nước bị chia cắt. Ra đời trong hoàn cảnh muôn vàn khó khăn, thế nhưng phóng viên luôn có mặt kịp thời trên các điểm nóng, phản ánh tinh thần chiến đấu anh dũng, động viên phong trào thi đua sản xuất, giết giặc lập công, bẽ gãy các luận điệu xuyên tạc thù địch.
Như vậy, có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về truyền hình, nhưng tựu chung, truyền hình được hiểu một cách đơn giản là nhìn thấy được từ xa, là một loại hình phương tiện thông tin đại chúng, sử dụng các phương tiện thiết bị khoa học kỹ thuật dé chuyén tải hình anh, âm thanh từ trung tâm phát sóng đến các điểm thu sóng. Chương trình truyền hình Chương trình truyền hình là hình thức vật chất hóa sự tồn tại của các tác phâm truyền hình trong đời sống xã hội dé truyền tải thông tin đến công chúng. Đó là một sản phẩm hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, là kết quả của một quá trình sáng tạo ở nhiều cấp độ lao động khác nhau, tập hợp một hay nhiều tác phâm khác nhau, tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau. Thuật ngữ chương trình truyền hình thường được sử dụng trong hai trường hợp: Trường hợp thứ nhất, người ta dùng chương trình truyền hình để chỉ toàn bộ nội dung thông tin phát đi trong ngày, trong tuần, trong tháng của mỗi kênh truyền hình hay của Đài Truyền hình.
Trường hợp thứ hai, chương 18 trình truyền hình dùng để chỉ một hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hop với một số thông tin tài liệu khác được tổ chức theo một chủ đề cụ thé với hình thức thức tương đối nhất quán, thời lượng ổn định và được phát định kỳ. Chương trình truyền hình đề cập tới các vấn đề của đời sống xã hội không phải một cách ngẫu nhiên như tự thân nó có, mà nó thường chuyển tải các loại thông tin từ chương trình này đến chương trình khác, từ ngày này qua ngày khác nhằm phục vụ đối tượng công chúng xác định. Nội dung của nó làm sâu sắc thêm một cách trực tiếp những tư tưởng, chủ đề dần dần Tạo thói quen trong ý thức công chúng. Có thé nói chương trình truyền hình là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng truyền hình.
Từ van dé trên có thé có các cách tiếp cận: Thứ nhất, từ phương điện kỹ thuật truyền tải thông tin nhiệm vụ của chương trình là làm sao dé đưa ra được lời đáp, lời hướng dẫn cho thực tế khi xây dựng chương trình truyền hình, quy định được nguyên tắc phối hợp tin, bài. Đây hoàn toàn là khuynh hướng nghề nghiệp, được nghiên cứu một mặt của việc phản ánh từ sự tiếp xúc xã hội rộng lớn, đến mối quan hệ nhân quả. Thứ hai, khuynh hướng quan tâm đến ưu thé và biểu hiện ở hiệu quả tác động của hoạt động giao tiếp đại chúng tới hiệu lực của nó. Tuy chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện nhưng cách tiếp cận này cũng đưa ra khái niệm chỉ về phan giao tiếp cũng như đặt ra những van dé, sự kiện mà nó ảnh hưởng tới cơ cau khuynh hướng của chương trình.
Thứ ba, chương trình là hình thức thể hiện thực tế, hình thức vật chất hóa sự tồn tại của truyền hình trong xã hội dé truyền tải thông tin đến công chúng truyền hình. Có thể nói nếu không có chương trình thì không còn truyền hình. Nhưng mặt khác, chương trình truyền hình là kết quả hoạt động, là sản phẩm của tập thé cơ quan đài: bộ phận lãnh đạo, bộ phận kỹ thuật, bộ phận nội dung chương trình, bộ phận hậu cần,. tạo nên thuật ngữ chương 19 trình truyền hình cả về mặt sáng tạo và sản xuất chương trình.
Cũng như việc sản xuất các sản phẩm khác, có người sản xuất có người tiêu ding. Người tiêu dùng sản phẩm báo chí cũng có tác động chi phối tới người làm ra sản phẩm, trong báo chí mối quan hệ đó được thể hiện: nhà báo - tác phẩm - công chúng. Chương trình truyền hình tạo thành chu kỳ khép kín các mắt xích trong chuỗi mắt xích giao tiếp truyền hình.TS Duong Xuân Son, trong quyên Giáo trình báo chí truyền hình, ông đã đưa ra khái niệm về chương trình truyền hình như sau: chương trình truyền hình đó là sự kết hợp, sắp xếp, bố trí hợp lý các tin, bài, bảng biểu, tư liệu băng hình ảnh và âm thanh được mở dau bang lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả [22, tr.131] Như vậy, có thé thấy các tin, bài, bang biểu, tư liệu, hình anh, âm thanh chính là những thành tố tạo ra những cấu trúc truyền hình phức tạp hơn đó chính là chương trình truyền hình. Chăng hạn như các chương trình Thời sự, trò chơi, âm nhạc, thể thao.
Chương trình Thời sự truyền hình Trong cuốn Từ điền tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, định nghĩa: - Chương trình là: "toàn bộ nói chung những dự kiến hoạt động theo một trình tự nhất định và một thời gian nhất định" [31, tr.193] - Thời sự là: "tổng thể nói chung những sự việc ít nhiều quan trọng trong một lĩnh vực nao đó, thường là xã hội, chính tri, xảy ra trong thời gian gần nhất và đang được nhiều người quan tâm.956] - Truyền hình: “là một loại hình truyền thông đại chúng, chuyền tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh. Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình bắt nguồn từ hai từ “tele” có nghĩa là “ở xa” va “vision” nghĩa là “thay được”, tức là “thấy được ở xa”.143] 20 Định nghĩa về “Chương trình thời sự”, trong cuốn Báo chí truyền hình, các tác gia G. Iurépxki viết: "Chương trình thời sự đơn giản giống như một ban tin trên báo, thông báo các sự việc, hơn nữa, đó là những sự việc được phân tích, khái quát. Trên thực tế, chủ đề của bản tin là không giới hạn: nông nghiệp, nghệ thuật, kinh doanh, sáng chế, các sự kiện trong đời sống quốc tế.
Còn trong tài liệu tham khảo Thời sự truyền hình, tác giả V.Mc Cullough Carroll, viết: "Tin tức truyền hình - đó chính là một cuộc cạnh tranh theo đúng nghĩa. Hãy hiểu trọn vẹn hàm ý này trước khi các bạn thâm nhập vào thế giới kỳ thú đó.Còn nếu khi đã thâm nhập rồi, hãy tiếp tục dẫn bước lên phía trước. Người ta vẫn nói rằng, người làm việc trong chương trình thời sự lúc nào cũng "ngửi thấy" mùi cạnh tranh, nhưng chính điều đó giúp họ giữ vững được vị trí của mình.7] Từ "vị trí" mà tác giả V.Mc Cullough Carroll viết cho thấy tầm quan trọng của CTTS truyền hình. Đối với các đài truyền hình, CTTS truyền hình có thể xem như là "trang bìa" của tờ báo, là một trong những chương trình quan trọng hàng dau, nhất là đối với các Đài PT-TH địa phương.
CTTS truyền hình có đặc điểm rõ nét của tờ "báo hình". Từ những quan niệm trên có thé hiểu đơn giản là chương trình thời sự truyền hình là một chương trình được phát sóng định kỳ, có thời lượng ôn định, được kết cấu bao gồm các dang: tin, phóng sự ngăn, phỏng van,. bên cạnh đó, có thé sử dụng linh hoạt một số thê loại khác như: ghi nhanh, thông tin, tường thuật trực tiếp, bình luận, phân tích về những sự kiện, vấn đề có ý nghĩa xã hội mới xảy ra, đang hoặc sẽ xảy ra được nhiều người quan tâm với phạm vi phản ánh không giới hạn, những diễn biến sự kiện có thé xảy ra trong nước, ngoài nước. Chất lượng chương trình Thời sự truyền hình - Chất lượng là gì ? 21 Chât lượng là tông thê những tính chât, thuộc tính cơ bản của sự vật, sự việc, nó làm cho sự vật, sự việc này phân biệt với sự vật, sự việc khác.
Theo Từ điên tiêng Việt, chât lượng là "cái tạo nên phâm chât, giá trị của một sự vật, sự việc” [31, tr.199] - Chất lượng chương trình Thời sự truyền hình Chất lượng CTTS truyền hình được hiểu là khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin thời sự của công chúng, phù hợp lợi ích cộng đồng, vừa hấp dẫn và gây ấn tượng mạnh với công chúng.