Luận văn mối quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền Việt Nam

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu mối quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền tại Việt Nam, phân tích thực trạng và đưa ra giải pháp phát triển.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ luật học

2010

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Cách hiểu đúng về mối quan hệ xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền

Mối quan hệ giữa xã hội dân sựnhà nước pháp quyền là một chủ đề trung tâm trong lý luận chính trị - pháp lý hiện đại. Ở tầm khái quát, mỗi xã hội hiện đại được cấu thành bởi ba trụ cột: nhà nước, thị trườngxã hội dân sự. Trong đó, nhà nước pháp quyền (NNPQ) là mô hình tổ chức quyền lực dựa trên nguyên tắc pháp luật tối thượng, bảo đảm quyền con người và quyền công dân. Trong khi đó, xã hội dân sự (XHDS) bao gồm các tổ chức tự nguyện, phi chính phủ, hoạt động độc lập với nhà nước nhưng tương tác chặt chẽ với nó. Theo Vũ Thị Thu Hường (2010), XHDS ở Việt Nam vẫn chưa được hình thành đầy đủ và rõ nét, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi thể chế. Tuy nhiên, vai trò của XHDS ngày càng được Đảng và Nhà nước thừa nhận như một bộ phận thiết yếu trong quá trình xây dựng NNPQ xã hội chủ nghĩa. Mối quan hệ này không phải là đối lập mà mang tính bổ trợ, kiểm soát và hợp tác, tạo nên một hệ sinh thái dân chủ lành mạnh. Việc nhận diện đúng bản chất của mối quan hệ này là tiền đề để hoạch định chính sách phù hợp, thúc đẩy minh bạch, trách nhiệm giải trình và phát triển bền vững.

1.1. Khái niệm cốt lõi Xã hội dân sự là gì

Xã hội dân sự được hiểu là tập hợp các tổ chức, cá nhân hoạt động tự nguyện, phi lợi nhuận, độc lập với nhà nước nhưng tuân thủ pháp luật. Các tổ chức xã hội dân sự (CSO) bao gồm hiệp hội nghề nghiệp, nhóm vận động chính sách, tổ chức từ thiện, và các phong trào cộng đồng. Theo tài liệu gốc, XHDS không chỉ là nơi thể hiện tiếng nói công dân mà còn là cầu nối giữa nhà nước và người dân. Đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hóakinh tế tri thức, vai trò của XHDS càng trở nên quan trọng trong việc giám sát chính sách và thúc đẩy cải cách.

1.2. Nhà nước pháp quyền Nền tảng thể chế cho dân chủ

Nhà nước pháp quyền là mô hình tổ chức quyền lực trong đó mọi hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân đều phải tuân thủ pháp luật. Ở Việt Nam, NNPQ được xây dựng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy dân làm gốc. Theo luận văn của Vũ Thị Thu Hường, NNPQ không chỉ bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân mà còn tạo điều kiện cho xã hội dân sự phát triển. Mối liên hệ này mang tính hai chiều: NNPQ tạo khung pháp lý cho XHDS hoạt động, trong khi XHDS góp phần giám sát, phản biện và hoàn thiện NNPQ.

II. Thách thức trong mối quan hệ xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền tại Việt Nam

Mặc dù có nhiều chuyển biến tích cực, mối quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền ở Việt Nam vẫn đối mặt với không ít thách thức. Một trong những rào cản lớn nhất là sự hạn chế về nhận thức của cả cán bộ và người dân đối với vai trò của xã hội dân sự. Nhiều người vẫn đồng nhất XHDS với các tổ chức chính trị hoặc cho rằng nó là yếu tố “ngoài luồng”. Bên cạnh đó, trình độ phát triển kinh tế còn thấp làm hạn chế nguồn lực cho các tổ chức xã hội dân sự hoạt động hiệu quả. Môi trường pháp lý cũng chưa đủ minh bạch và ổn định, dẫn đến tình trạng các CSO gặp khó trong đăng ký, huy động tài chính và vận hành. Theo Vũ Thị Thu Hường (2010), sự minh bạchtrách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước vẫn còn hạn chế, làm giảm niềm tin của công chúng vào hệ thống. Ngoài ra, nguồn lực nhân sự chuyên nghiệp cho XHDS còn thiếu trầm trọng, khiến nhiều tổ chức hoạt động mang tính tự phát, thiếu bền vững. Những thách thức này không chỉ cản trở sự phát triển của XHDS mà còn làm chậm tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền thực chất.

2.1. Nhận thức hạn chế về vai trò của xã hội dân sự

Nhiều cán bộ và người dân vẫn chưa hiểu đúng bản chất xã hội dân sự, dẫn đến thái độ dè dặt hoặc nghi ngại. Điều này xuất phát từ tính lịch sửthiếu thông tin trong thời g日晚间 trước đổi mới. Việc thiếu định hướng rõ ràng từ phía nhà nước khiến XHDS phát triển tự phát, thiếu đồng bộ. Nhận thức sai lệch này làm giảm hiệu quả tương tác giữa XHDS và nhà nước pháp quyền.

2.2. Môi trường pháp lý và kinh tế chưa thuận lợi

Mặc dù có nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của tổ chức xã hội dân sự, nhưng hệ thống vẫn còn bất cập, thiếu thống nhất. Trình độ phát triển kinh tế thấp làm hạn chế khả năng huy động nguồn lực tài chính cho XHDS. Đồng thời, sự minh bạch trong quản lý nhà nước chưa cao, khiến các CSO gặp khó trong phối hợp và giám sát. Đây là rào cản lớn cho mối quan hệ hợp tác – kiểm soát giữa XHDS và NNPQ.

III. Phương pháp xây dựng mối quan hệ xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền bền vững

Để phát triển mối quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền một cách bền vững, cần có phương pháp tiếp cận hệ thốngđồng bộ. Trước hết, phải xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vì đây là nền tảng kinh tế cho XHDS phát triển. Đồng thời, đổi mới hệ thống chính trị theo hướng dân chủ, minh bạch, lấy nhân dân làm trung tâm. Theo Vũ Thị Thu Hường (2010), việc phát triển XHDS phải gắn liền với xây dựng NNPQ, trong đó nhà nước đóng vai trò tạo khung pháp lý, còn XHDS đóng vai trò phản biện và giám sát. Một giải pháp then chốt là đa dạng hóa hình thức tập hợpnguồn kinh phí cho các CSO, giúp họ hoạt động độc lập và chuyên nghiệp hơn. Bên cạnh đó, cần đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên trách cho XHDS, nâng cao năng lực vận động chính sách và quản trị tổ chức. Cuối cùng, tăng cường nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để làm rõ hơn vai trò, chức năng và mô hình XHDS phù hợp với điều kiện Việt Nam. Những phương pháp này không chỉ thúc đẩy dân chủ mà còn góp phần củng cố nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

3.1. Hoàn thiện thể chế kinh tế và chính trị

Việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là điều kiện tiên quyết để xã hội dân sự phát triển. Đồng thời, đổi mới hệ thống chính trị theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình cao sẽ tạo môi trường thuận lợi cho XHDS tham gia vào quá trình ra quyết sách. Đây là nền tảng để hình thành mối quan hệ đối tác giữa nhà nước và xã hội dân sự.

3.2. Đào tạo nhân lực và đa dạng hóa nguồn lực cho XHDS

Đảng và Nhà nước cần có kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp cho các tổ chức xã hội dân sự. Đồng thời, đa dạng hóa nguồn kinh phí từ ngân sách, doanh nghiệp và quốc tế sẽ giúp CSO hoạt động bền vững. Điều này nâng cao năng lực phản biện và giám sát của XHDS đối với nhà nước pháp quyền.

IV. Ứng dụng thực tiễn Bài học từ phát triển xã hội dân sự ở Việt Nam

Trong hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam đã chứng kiến sự xuất hiện ngày càng nhiều các tổ chức xã hội dân sự, cả trong nước và quốc tế. Các tổ chức này đã đóng góp tích cực vào các lĩnh vực như giáo dục, môi trường, quyền trẻ emphát triển cộng đồng. Theo Vũ Thị Thu Hường (2010), nhiều CSO đã trở thành đối tác tin cậy của nhà nước trong việc thực hiện chính sách công. Ví dụ, các hiệp hội nghề nghiệp tham gia xây dựng tiêu chuẩn ngành, các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ người yếu thế, hay các nhóm nghiên cứu độc lập đóng góp vào cải cách pháp luật. Tuy nhiên, mức độ tham gia vẫn còn hạn chế về phạm vi và chiều sâu. Nhiều CSO chỉ đóng vai trò cung cấp dịch vụ, chứ chưa thực sự tham gia vào soạn thảo chính sách. Dù vậy, những kết quả thực tiễn cho thấy tiềm năng to lớn của XHDS trong việc hỗ trợ nhà nước pháp quyền vận hành hiệu quả, minh bạch và gần dân hơn. Việc tổng kết các mô hình thành công sẽ là cơ sở để nhân rộng và thể chế hóa vai trò của XHDS trong hệ thống chính trị - pháp lý quốc gia.

4.1. Vai trò của CSO trong cung cấp dịch vụ công

Nhiều tổ chức xã hội dân sự đã tham gia hiệu quả vào việc cung cấp dịch vụ công, đặc biệt ở vùng sâu vùng xa. Họ lấp đầy khoảng trống mà nhà nước chưa kịp đáp ứng, từ y tế đến giáo dục. Tuy nhiên, cần nâng cấp vai trò này sang đồng thiết kế chính sách, không chỉ là người thực thi.

4.2. Xã hội dân sự trong cải cách pháp luật và giám sát

Một số CSO đã tham gia góp ý vào dự thảo luật, giám sát việc thực thi pháp luật và bảo vệ quyền công dân. Đây là biểu hiện rõ nét của mối quan hệ kiểm soát – hợp tác giữa XHDS và nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, cơ chế tham vấn vẫn chưa được chuẩn hóa và thường xuyên.

V. Tương lai của mối quan hệ xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

Tương lai của mối quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền ở Việt Nam phụ thuộc vào ý chí chính trịnỗ lực cải cách thể chế. Trong bối cảnh toàn cầu hóachuyển đổi số, vai trò của xã hội dân sự sẽ ngày càng được củng cố. Các CSO có thể tận dụng công nghệ để mở rộng phạm vi ảnh hưởng, kết nối mạng lưới và nâng cao hiệu quả vận động. Đồng thời, nhà nước pháp quyền cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, tạo điều kiện cho XHDS phát triển độc lập, minh bạch và chuyên nghiệp. Theo hướng dẫn của Đảng, việc phát triển XHDS phải gắn liền với bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dânphát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong tương lai, XHDS không chỉ là “người phản biện” mà còn là đối tác chiến lược trong quản trị quốc gia. Để đạt được điều này, cần có chiến lược quốc gia về phát triển XHDS, đi kèm với đầu tư nguồn lực và cam kết chính trị rõ ràng. Khi đó, mối quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền sẽ trở thành động lực then chốt cho phát triển bền vững và công bằng xã hội.

5.1. Xu hướng số hóa và toàn cầu hóa tác động đến XHDS

Công nghệ số giúp tổ chức xã hội dân sự tiếp cận thông tin, huy động cộng đồng và giám sát chính sách hiệu quả hơn. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, XHDS Việt Nam cũng có cơ hội học hỏi mô hình quốc tế và kết nối mạng lưới khu vực, nâng cao năng lực vận động chính sách.

5.2. Cần chiến lược quốc gia phát triển xã hội dân sự

Để khai thác tiềm năng của xã hội dân sự, Việt Nam cần xây dựng chiến lược quốc gia với lộ trình rõ ràng, nguồn lực đảm bảo và cơ chế phối hợp với nhà nước pháp quyền. Điều này sẽ thể chế hóa vai trò của XHDS trong hệ thống chính trị - pháp lý, hướng tới một xã hội dân chủ, pháp quyền và phát triển bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn mối quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

DAI HOC QUOC GIA HA NOI KHOA LUAT VŨ TII TIU HƯỜNG MOI QUAN HỆ GIỮA XÃ HỌI DÂN SỰ VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYÈN Ở VIỆT NAM LUAN VAN THAC Si LUAT HOC HÀ NÓI - 2010 DAI HOC QUOC GIA HA NOI KHOA LUAT VŨ THỊ THU HƯỚNG MỐI QUAN HỆ GIỮA XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYEN O VIET NAM Chuyén ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật Ma sé: 60.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hưởng dẫn khoa học: PGS.TS Đình Ngọc Vượng HÀ NỘI - 2010 LOI CAM DOAN Tôi xi cam đoan Luận văn thạc sỹ luật học với đề tài “adi quan hệ giữa xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. T8 Đỉnh Ngọc Vượng. Các thông tin và kết quả nghiên cứu trong luận văn là do tôi tự tìm hiểu, đúc kết và phân tích một cách trung thực, phù hợp với tình hình thực tế. Hả Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2010 Tiọc viên Vũ Thị Thu Hường ở tầm rộng và khái quát nhất, mỗi xã hội hiện đại đều được coi là cấu thành bởi ba trụ cột chính, đó là nhà nước, thị tường và XIIDS.

V8 đại thể, nhà nước và thị trường đã phát triển ngày cảng đây đủ và toàn diện, và cũng được nghiên cứu khả sâu sắc thấu dao. Riêng phần XHDS, cái chân thử ba khả quan trọng trong cái kiêng kết cấu của một xã hội hiện đại, cho đến nay vẫn cỏn những khia cạnh dường như chưa được hình thành thật dầy đủ vả rõ nét, sự phong phú vả tỉnh da dang của nó vẫn chưa được tìm hiểu một cách căn +ế, nhất là đối với những nước đang chuyển đổi như nước ta. Từ khoäng 10 dén 15 năm gần đây, khái niệm, tên goi XHDS mai din dần vào Việt Nam bằng nhiều con đường. Cùng với việc thực hiện đường lỗi đổi mới của Đảng và Chính phủ, nhiều tổ chức mới thuộc XIIDS trong nước và nước ngoài xuất hiện ngày cảng nhiều và các hoạt déng của chúng di dem lại nhiễu kết quả tốt, bắt đầu nhận được sự ủng hệ và hưởng ứng tích cực trong xã hội Tuy nhiên, do nhiều lý đo: tính lịch sử, sự thiếu chủ động quan tâm của Nhà nước trước đây, tình trang ít thông tin và sự hiểu biết thiểu cin kẽ.

nên mặc đủ XIH2S vẫn đang tổn tại hiển nhiên trong xã hội, nhưng không máy khi được công luận sử dụng một cách chính thức khái niệm và tên gọi nảy. Về mặt nhà nước, đôi khi cũng có các cơ quan nêu ra yêu cầu giải quyết các khó khăn về mặt pháp quy để các ŒSO hoại động có nề nếp, được quan lý chỉnh thức bằng luật, do đỏ sẽ thuận lợi hơn, thu dược nhiều lợi ích hơn cho xã hội. Cho đến nay, Dảng và Chính phủ đã có những chủ trương mang lại nhiều hy vóng mới cho các tổ chức và hoạt động của XHDS khân thấy việc phổ biến và trao dỗi rộng rãi hơn những hiểu biết về XIIDS có thể góp phần mang lại bể ích cho xã hội, Đảng và Chính phủ đã có chủ trương phân tích và phổ bị ến rồng rãi trong nhân dân về vị trí, chức năng, và sự da dang cla XHDS, quan hê giữa XHDS với các tổ chức nhà nước va thị trường ở trong nước và trên thế giới, đặc biệt là trong điều kiện toàn cầu hóa đã mở rộng và nền kinh tế trì thức dang phát triển DANH MUC TY VIET TAT XHDS Xã hội dân sự cso Tô chức xã hội dân sự NNPQ Nhà nước pháp quyền KITT Kinh tế thị trường XHCN Xã hội chủ nghĩa CNXH Chủ nghĩa xã hội MTTQ Mặt trận Tô quốc vị CHUONG 3 PHUONG HUGNG PHAT TRIEN XÃ HOI DAN SU TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NHA NUGC PHAP QUYEN Ở NƯỚC TA TIẾN NAY. Những trở ngại trong vì ệc thúc dây sự phát triển của XHD§ ở Việt Nam.

Sw ip về nhận thức của cán bộ và côngdân dỗi với XHDS 64 3. Trình độ phát triển kinh tế còn thấp chưa tạo ra những diều kiện cẦn thiết cho XHDS phát triển. Mỗi trường kinh tế - xã hội, văn hoá và pháp lý cỏn nhiều bắt cập. 'trình độ dân chủ và sự mình bạch của các CRO chữa cao 70 3.

Các nguồn lực cho phát triển XIIDS còn hạn chế. Tính tất yêu khách quan của việc xây dựng XHDS ở nước ta hiện nay „. Phương hướng xây dựng và phát triển XIDS Việt Nam. Xây dựng và phát triển XHI2§ gắn liền với xây dựng và hoàn thiên thể chế KTTT định hướng XHƠN.2 Kay dumg, phal trién XHDS gắn liền với việc đổi mới hệ thống chính †rị, xây dựng và hoàn thiện NNPQ XHCN cta din, do dan va vi dan, phat buy dân chủ XHƠN, bảo đảm toàn bộ quyền lực thuộc về nhân đân.

Sớm ban hành và hoàn thiện các văn bản pháp luat vẻ hội, tạo môi trường pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của các CSO. Một số giải pháp nhằm phát triển XIIDS Việt Nam trong mỗi quan hệ với NNPQ. Đối mới công tác tuyên truyền, giáo dục nhãm nâng cao nhận thức của cán bộ, nhân dân về XHDS, Š yêu cầu khách quan cửa việc xây dựng XHI8 Việt Nam. 9 DANH MUC TY VIET TAT XHDS Xã hội dân sự cso Tô chức xã hội dân sự NNPQ Nhà nước pháp quyền KITT Kinh tế thị trường XHCN Xã hội chủ nghĩa CNXH Chủ nghĩa xã hội MTTQ Mặt trận Tô quốc vị ở tầm rộng và khái quát nhất, mỗi xã hội hiện đại đều được coi là cấu thành bởi ba trụ cột chính, đó là nhà nước, thị tường và XIIDS.

V8 đại thể, nhà nước và thị trường đã phát triển ngày cảng đây đủ và toàn diện, và cũng được nghiên cứu khả sâu sắc thấu dao. Riêng phần XHDS, cái chân thử ba khả quan trọng trong cái kiêng kết cấu của một xã hội hiện đại, cho đến nay vẫn cỏn những khia cạnh dường như chưa được hình thành thật dầy đủ vả rõ nét, sự phong phú vả tỉnh da dang của nó vẫn chưa được tìm hiểu một cách căn +ế, nhất là đối với những nước đang chuyển đổi như nước ta. Từ khoäng 10 dén 15 năm gần đây, khái niệm, tên goi XHDS mai din dần vào Việt Nam bằng nhiều con đường. Cùng với việc thực hiện đường lỗi đổi mới của Đảng và Chính phủ, nhiều tổ chức mới thuộc XIIDS trong nước và nước ngoài xuất hiện ngày cảng nhiều và các hoạt déng của chúng di dem lại nhiễu kết quả tốt, bắt đầu nhận được sự ủng hệ và hưởng ứng tích cực trong xã hội Tuy nhiên, do nhiều lý đo: tính lịch sử, sự thiếu chủ động quan tâm của Nhà nước trước đây, tình trang ít thông tin và sự hiểu biết thiểu cin kẽ.

nên mặc đủ XIH2S vẫn đang tổn tại hiển nhiên trong xã hội, nhưng không máy khi được công luận sử dụng một cách chính thức khái niệm và tên gọi nảy. Về mặt nhà nước, đôi khi cũng có các cơ quan nêu ra yêu cầu giải quyết các khó khăn về mặt pháp quy để các ŒSO hoại động có nề nếp, được quan lý chỉnh thức bằng luật, do đỏ sẽ thuận lợi hơn, thu dược nhiều lợi ích hơn cho xã hội. Cho đến nay, Dảng và Chính phủ đã có những chủ trương mang lại nhiều hy vóng mới cho các tổ chức và hoạt động của XHDS khân thấy việc phổ biến và trao dỗi rộng rãi hơn những hiểu biết về XIIDS có thể góp phần mang lại bể ích cho xã hội, Đảng và Chính phủ đã có chủ trương phân tích và phổ bị ến rồng rãi trong nhân dân về vị trí, chức năng, và sự da dang cla XHDS, quan hê giữa XHDS với các tổ chức nhà nước va thị trường ở trong nước và trên thế giới, đặc biệt là trong điều kiện toàn cầu hóa đã mở rộng và nền kinh tế trì thức dang phát triển Nước ta hiện nay đang rất cần phát huy các nguồn lực cho sự phát triển mả nguồn lực con người là nguồn lực lớn nhất của mọi nguồn lực. Phát huy nguồn lực con người chính là thực hiện và phát huy vai trò làm chủ của người dân, tổ chức tt XHDS sé 1a một dăm bão quan trọng và thiết thực cho hoạt động đây.

XHDä thúc đẩy phát triển và phát huy đân chủ. Khi mà chúng ta dang chứng kiến nhiều tổ chức, doàn thể quần chúng đã không phát huy dược vai trô vì gần như bị “Nhà nước hóa”, “hành chính hóa”. XHI28 rõ ràng dang là khâu yếu nhất trong 3 trụ cột chính của sự phát triển xã hội nói trên. Đã đến lúc vấn dé “XHDS” cin dược dặt ra một cách nghiễm túc cùng với phát triển kK ' và việc đấy mạnh xây dung NNPQ XHCN eta dân, do dan, vi din Chính vì những lý do trên mà đề tài “M/ái quan hệ giữa xã hội dan sự và nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” là dé tai mang tính cấp thiết, dược chọn làm để tài cho luận văn này 2.

Tình hình nghiên cứu đề tài + Tình hình nghiên cửu trong nước Những năm gần đây ở Việt Nam đã cỏ những công trình, các lác giả nghiên cứu về xã hội dân sự (cũng có tác giả gọi là xã hội công dân). 1rong các công trình, để tài nghiên cửu về xã hội đân sự có thể thấy có các cong trình, dễ tải tiêu biểu như: Xây dựng nên dan chit HCN va Nha nude pháp quyền (1992) của tác giả Dỗ Nguyên Phương Trần Kgọc Dường; Mối quan hệ pháp lý giữa cá nhân công đân với nhà mước (1994) - Trần Ngọc Đường va Chu Văn Thành, Quan hệ giữa nhà nước và XHI2S Việt Nam, lịch sử và hiện đại (2004) - Lê Văn Quang, Mỗi liên hệ giữa nhà nước với XHDS và vẫn đề cải cách hành chính (2004) — G5.T8 Đào Trí Úc, Xây đựng nhà nước pháp quyên từ sự hình thành xã hội công dân (2004) - Nguyễn Thanh Bình, Vẻ mỗi quan hệ giữa nhà nước pháp quyền VHCN với đời sống XHDS (2004) - Văn Đức Thanh; Một số vấn dễ lở luận về quan hệ nhà nước, xã hội và công dân PHAN MO DAU 1. Tính cấp thiết của để tài Ngày nay, XHDS hầu như đã trở thành một bộ phận không thể phần tách của đời sông xã hội hiện đại. Quan điểm nảy đã được thể hiện rỡ trong Báo cáo năm 1997 của Tổng thư kỷ Liên Iiiệp quốc Koñ Anan khi ông nỏi: “Các NGO va cdc chủ thể khác của XHDS nay không chỉ dược coi là người phổ biến thông tin hay nhà cung cấp dịch vụ, mà còn là người soạn thảo chính sách, cho dù là vẫn đề hỏa bình hay an ninh, phát triển hay nhân đạo”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ