Chương 1: Giới thiệu: Trình bày giới thiệu khái quát về vấn đề và lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu, và kết cấu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Trình bày cơ sở lý thuyết về sức khỏe là thành tố quan trọng của vốn con người; tăng trưởng kinh tế, các mô hình tăng trưởng kinh tế; mối quan hệ giữa vốn sức khỏe và tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, chương này cũng trình bày kết quả của một số nghiên cứu trước có liên quan, từ đó đề xuất giả thuyết nghiên cứu là cơ sở để thiết kế mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu. Trình bày trình bày cơ sở xây dựng mô hình và mô hình nghiên cứu đề xuất; giới thiệu các phương pháp kiểm định và ước lượng mô hình phù hợp. Mô tả dữ liệu nghiên cứu, giải thích các biến và nguồn dữ liệu được lấy để thực hiện nghiên cứu với kỳ vọng dấu tương ứng. Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu.
Trình bày phân tích đánh giá vốn sức khoẻ và tăng trưởng kinh tế tại các nước ASEAN trong giai đoạn nghiên cứu. Kiểm tra dữ liệu ban đầu, phân tích tương quan giữa các biến, kiểm định các giả thuyết có liên quan đến mô hình nghiên cứu và phân tích kết quả nghiên cứu từ mô hình kinh tế lượng. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Tổng kết các nội dung luận văn đã thực hiện, từ đó đưa ra một số kết luận, khuyến nghị về chính sách nâng cao sức khỏe con người đối với các nước ASEAN để góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế.
Đồng thời đưa ra những điểm mới, những hạn chế của đề tài, và hướng nghiên cứu tiếp theo. 6 Luận văn Thạc sĩ Kinh tế học Học viên thực hiên : Trần Hoàng Phú CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này tập trung giới thiệu cơ sở lý thuyết về sức khoẻ là thành tố quan trọng của vốn con người; các chỉ số vốn con người; các lý thuyết đo lường sức khoẻ; khái niệm tăng trưởng kinh tế; các mô hình lý thuyết đo lường tăng trưởng kinh tế; lý thuyết mối quan hệ giữa sức khỏe và tăng trưởng kinh tế. Sau đó là tóm tắt một số nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu. Từ cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan, tác giả sẽ đề xuất giả thuyết nghiên cứu, là cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu cho đề tài này.1 Sức khỏe là thành tố quan trọng của vốn con người Theo Becker (1993), phân tích vốn con người bắt đầu với giả thiết cho rằng những cá nhân quyết định giáo dục, đào tạo, chăm sóc y tế và những phần bổ sung vào hiểu biết và sức khoẻ của mình bằng cách cân nhắc những phần được và những chi phí.
Becker đã nhận giải Nobel năm 1992 về Khoa học Kinh tế, là người tiên phong áp dụng phân tích kinh tế vào hành vi của con người trong các lĩnh vực như phân biệt, hôn nhân, quan hệ gia đình và giáo dục. Theo Bùi Quang Bình (2009), “Vốn con người và đầu tư vào vốn con người”, thì vốn con người là những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích luỹ trong mỗi con người nhờ quá trình giáo dục, rèn luyện sức khỏe và lao động. Nguồn vốn này được khai thác sử dụng trong quá trình người lao động tham gia vào sản xuất và được phản ánh qua năng suất lao động và hiệu quả công việc của họ. Cùng với vốn hữu hình nó tạo ra tài sản của nền kinh tế, nhưng vốn con người là phần cấu thành quan trọng nhất trong đó, góp phần vào tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế của mỗi nước.
Vốn con người được xem là tài sản của mỗi quốc gia. Khi định giá tài sản quốc gia, các nhà kinh tế cũng tính toán phần giá trị của nó vào tổng tài sản. Ngày nay nguồn vốn này giữ vai trò rất lớn trong sự phát triển của mỗi quốc gia và là nguồn lực quyết định tới 7 Luận văn Thạc sĩ Kinh tế học Học viên thực hiên : Trần Hoàng Phú tính bền vững sự tăng trưởng kinh tế. Vốn con người là vốn vô hình gắn với con người và thể hiện qua kết quả và hiệu quả làm việc trong quá trình sản xuất.
Nhưng vốn con người theo Mincer (1974) cũng giống như vốn hữu hình, muốn có thì con người phải đầu tư để tích luỹ thông qua giáo dục, sức khỏe trong lao động và thuộc về mỗi người, và nó đem lại cho người sở hữu nó khoản thu nhập. Theo Nguyễn Văn Ngọc (2006) thì vốn con người là khái niệm để chỉ toàn bộ hiểu biết của con người về phương thức tiến hành các hoạt động kinh tế xã hội. Như vậy, hai quan điểm vốn con người hữu hình và vô hình không có gì khác nhau về những hiểu biết, kinh nghiệm để hình thành và tích luỹ trong quá trình lao động. Mặt khác, Becker, Murphy và Tamura (1986) cho thấy là trong những xã hội có vốn con người dồi dào thì các gia đình có xu hướng lớn mạnh trong lúc chúng lại có xu hướng thu nhỏ lại khi vốn con người trở nên khan hiếm.
Trong một lĩnh vực khác, lĩnh vực của sự phân biệt đối xử thì những chênh lệch về lương giữa nam và nữ một phần thuộc về những khác biệt trong thời lượng hoạt động và trong kinh nghiệm nghề nghiệp (Mincer & Polachek, 1974). Nếu phân tích những nguồn gốc của tăng trưởng đã góp phần vào sự phát triển của lí thuyết đầu tư vào vốn con người thì, ngược lại, vốn con người nằm ở trung tâm của những lí thuyết tăng trưởng nội sinh kể từ những năm 1980. Lucas (1988) quan tâm đến những ngoại sinh tích cực trên sản xuất do tích luỹ vốn con người sinh ra. Đối với hệ thống kinh tế, tích luỹ vốn con người là nội sinh và cho phép giải thích một cơ chế cộng dồn tăng trưởng mà không cần phải viện đến một tăng trưởng ngoại sinh.
Romer (1990) lấy lại vai trò của tiến bộ kĩ thuật như là nguồn gốc nội sinh của tăng trưởng, nhưng vốn con người lại được xem như yếu tố hàng đầu cho thực hiện những nghiên cứu. Ông đưa vào một sự phân biệt quan trọng giữa khái niệm kho vốn con người là một kho hàm chứa và khái niệm kho vốn sức khoẻ hiện có trong một xã hội: kho vốn sức khoẻ này là một sản phẩm công cộng. Theo Grossman (1972), sức khỏe là thành tố quan trọng của vốn con người. Sức khoẻ được cá nhân yêu cầu vì sức khoẻ tham gia trực tiếp vào hàm lợi ích của cá thể, nhưng cũng vì sức khoẻ xác định tổng thời gian có được dành cho những hoạt động 8 Luận văn Thạc sĩ Kinh tế học Học viên thực hiên : Trần Hoàng Phú thị trường và phi thị trường.
Cá nhân thừa hưởng một kho sức khoẻ ban đầu mất giá trị với thời gian nhưng có thể được tăng lên bằng một đầu tư sử dụng những dịch vụ chăm sóc y tế và thời gian dành cho sức khoẻ. Giáo dục làm tăng năng suất của đầu tư phi hàng hoá về sức khoẻ. Khái niệm sức khỏe: Sức khoẻ là khái niệm còn nhiều tranh luận với các tác động sâu rộng về mặt chính trị và xã hội. Sức khoẻ giống như nhiều khái niệm khác, không thuần tuý mang tính khoa học và cũng không hẳn chỉ là một phần của lý lẽ thông thường.
Mẫu số chung của chúng bao gồm cả các lý thuyết khoa học và những suy nghĩ đời thường. Các phát biểu về sức khoẻ như sau: “Một tinh thần minh mẫn trong một cơ thể cường tráng (sane mind in a strong body). Sức khoẻ là tình trạng không có bệnh hoặc không có tàn tật”. Hiến chương Ottawa (qua hội nghị quốc tế của WHO về Nâng cao sức khoẻ năm 1986) qui định: “Sức khoẻ là một nguồn lực cho cuộc sống hàng ngày, không phải là mục tiêu của cuộc sống.
Sức khoẻ là một khái niệm tích cực nhấn mạnh vào các nguồn lực xã hội và cá nhân, cũng như khả năng về thể chất”. John Last (1997): “Sức khỏe là tình trạng thăng bằng giữa con người và môi trường tự nhiên, sinh học, và xã hội, thích hợp cho các hoạt động chức năng toàn vẹn”. Mô hình bệnh tật: mô hình bệnh tật với bệnh lây nhiễm cao nói lên tình hình phát triển thấp, với bệnh không lây nhiễm cao nói lên tình hình phát triển cao hơn, với tai nạn, chấn thương và ngộ độc cao nói lên sự phát triển chưa được quản lý tốt. Mô hình bệnh theo các nhóm thu nhập: nhóm nghèo có tử vong trẻ sơ sinh cao hơn nhóm giàu, bệnh lây nhiễm cao hơn nhóm giàu, bệnh không lây nhiễm thấp hơn nhóm giàu, tai nạn cao hơn nhóm giàu, số người già trên 70 thấp hơn nhóm giàu.
Báo cáo của World Bank vào năm 2010 nhấn mạnh khoảng cách về tuổi thọ giữa các nước giàu và người nghèo ngày càng lớn. Một đứa trẻ sinh ra ở Nhật Bản có tuổi thọ là 82 năm; trái lại, ở Sierra Leone, Angola và Afghanistan, tuổi thọ trung bình khi sinh là khoảng 34 năm. Theo Lopez, Rivera, & Currais (2005), "Đối với các nước kém phát triển đầu tư vào sức khỏe thường cung cấp một phương tiện để thoát khỏi 9 Luận văn Thạc sĩ Kinh tế học Học viên thực hiên : Trần Hoàng Phú cái bẫy nghèo đói”. Các chương trình y tế công cộng và dịch tễ học giúp rút ngắn vòng luẩn quẩn của nghèo đói và bệnh tật tạo ra sự bổ sung trong các hình thức vốn con người khác như giáo dục hoặc tỷ suất sinh bền vững cho gia đình.
Chương trình này giúp làm thế nào để gia tăng tuổi thọ sau khi cha mẹ quyết định đầu tư vào giáo dục con cái của họ và giảm rủi ro tử vong ở trẻ sơ sinh. Kết quả là, phụ nữ có thể làm giảm tỷ suất sinh với tỷ lệ mà tại đó các lao động chính cần phải được giảm xuống. Điều này làm tăng thu nhập bình quân đầu người. Ngoài ra, ở cấp độ cao hơn, cộng đồng khỏe mạnh làm năng suất cao hơn, và đóng góp thu nhập quốc gia để chia sẻ cho những người nghèo khó.
Theo Scheffler (2004), ghi nhận sự gia tăng chi phí chăm sóc sức khỏe là do công nghệ. Ở nhiều quốc gia công nghiệp hóa phát triển, chi phí chăm sóc sức khỏe là gián tiếp liên quan đến công nghệ. Trong quá khứ, chi tiêu y tế không được coi là cần thiết cho sự phát triển. Nó được cho là cái gì đó sẽ đến sau khi một quốc gia đã phát triển.