phần mở đầu, hai chương, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. CHUONG I MOT SO VAN DE LY LUAN VE MOI QUAN HE GIUA PHAP LUAT VOI DAO DUC 1. DAO DUC VA PHAP LUAT - NHUNG CONG CU QUAN LI XA HOI QUAN TRONG: 1. Dé tổ chức và quản lí các mặt khác nhau của đời sống xã hội, có nhiều công cụ, phương tiện khác nhau, trong đó pháp luật giữ vai trò rất quan trọng.
Là một hiện tượng xã hội phức tạp cho nên, ngay từ khi mới ra đời cũng như trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, pháp luật luôn được quan tâm nghiên cứu. Tuy vậy, hiện nay, khái niệm "pháp luật" vẫn chưa được nhận thức một cách hoàn toàn thống nhất. Quan điểm truyền thống cho rằng “Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự do nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội"!. Có thé nói, hầu hết các sách báo pháp lí, các nhà khoa học, các luật gia nước ta.
đều thừa nhận cách hiểu này. Tuy vậy, cũng có một số tác giả không hoàn toàn tán thành cách hiểu trên. Xuất phát từ quan niệm "qui tắc xử sự" là những mô hình, khuôn mẫu cho hành vi con người, nó xác định rõ trong điều kiện, hoàn cảnh hay tình huống nào thì chủ thể được làm gì, phải làm gì, làm như thế nào hay không được làm gì., một số tác giả cho rang, pháp luật được hiểu là "hệ thống những qui tắc xử sự" sẽ không bao quát hết những "sự vật" mà nó phản ánh, bởi lẽ trong "pháp luật” còn có rất nhiều qui định do nhà nước ban hành nhưng không phải là những "qui tắc xử su". Tác giả cho rằng lập luận này có phần go bó và cứng nhac.
Thực tế, đúng là có rất nhiều qui định do nhà nước ban hành chỉ là để qui định cách hiểu về một thuật ngữ, giải thích một khái ' Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận nhà nước - pháp luật, Nxb Công an nhàn dan, Hà Nội 2002, tr 64. niệm hay nêu lên một tư tưởng, một nguyên tắc nào đó, chúng không phải là những qui tắc xử sự bởi chúng không đưa ra một phương án xử sự cụ thể nào để chủ thể thực hiện theo. Tuy nhiên chúng lại có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp các chủ thể nhận thức và thực hiện một cách đúng đắn, đầy đủ những qui tac của hành vi mà nhà nước đã đề ra. Không có nó, chắc chắn việc nhận thức và thực hiện những qui tắc của hành vi sẽ không có sự thống nhất.
Mặt khác, pháp luật không phải là phép cộng giản đơn những qui tắc xử sự do nhà nước ban hành. Chính những tư tưởng, những nguyên tắc hay những qui định về cách hiểu các khái niệm, thuật ngữ nào đó là "chất keo" liên kết những "qui tắc xử sự" thành một thể thống nhất. Thiếu chúng, các "qui tắc xử su" do nha nước ban hành chỉ là một tập hợp giản đơn, không thể trở thành một "hệ thong". Bởi vậy, theo tác gia, quan niệm "pháp luật là hệ thống những qui tac xử su." là hoàn toàn chính xác (tác giả nhấn mạnh chữ "hệ thống").
Tuy nhiên, sẽ là không chính xác nếu cho rằng pháp luật chỉ "thể hiện ý chí của giai cấp thống trị". Pháp luật do nhà nước ban hành va bảo đảm thực hiện, do vậy, nó phải thể hiện ý chí nhà nước. Nhà nước, tổ chức đại diện chính thức và hợp pháp cho toàn xã hội, có khả năng bắt tất cả các cá nhân, tổ chức trong xã hội phục tùng ý chí của mình. Nhà nước có thể cho phép các thành viên trong xã hội được làm gi, bắt buộc họ phải làm gi, làm như thế nào hay không cho phép họ làm gì.
Nhà nước, tổ chức quyền lực chung của toàn thể xã hội vừa phải đứng ra tổ chức và quản lí đời sống cộng đồng, vì sự ổn định, trật tự và phát triển của cả cộng đồng, vừa phải duy trì, củng cố và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Chính vì vậy, pháp luật do nhà nước ban hành không chỉ "thể hiện ý chí của giai cấp thống trị" mà trên cơ sở ý chí của giai cấp thống trị, ý chí chung của cộng đồng xã hội tập trung thành ý chí nhà nước, thông qua hoạt động xây dựng pháp luật, ý chí nhà nước được thể hiện thành những qui định pháp luật cụ thể. Từ tất cả những phân tích trên đây, có thể quan niệm rằng: pháp luật là hệ thống các qui tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện y chi nhà nước, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội. Trong xã hội có giai cấp, pháp luật được xác định là công cụ quan trọng nhất để quản lí xã hội.
So với các công cụ quản lí xã hội khác, pháp luật có những ưu thế hơn hẳn như tính được đảm bảo bằng nhà nước, tính xác định chặt chẽ về hình thức. Nhờ đó, pháp luật là phương tiện có vai trò quan trọng nhất để tổ chức và quản lí đời sống xã hội. Pháp luật đảm bảo cho xã hội tồn ——-BSS tại và phát triển trong ổn định, trật tự, Nhờ có pháp luật, các hành vi xâm hai trật tự, an toàn xã hội được hạn chế và từng bước bị loại trừ khỏi đời sống xã hội. Nhờ có pháp luật, giai cấp thống trị có thể củng cố, duy trì địa vị thống trị xã hội của mình, bảo vệ và phát triển các lợi ích của nó, trấn áp sự phản kháng của các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội.
Bằng pháp luật, nhà nước có thể quản lí các mặt khác nhau của đời sống xã hội trên các lĩnh vực của cuộc sống. Nhờ có pháp luật, nhà nước có cơ sở để phát huy quyền lực của mình, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động của các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Pháp luật là cơ sở để tổ chức bộ máy nhà nước, qui định chức nang, nhiệm vụ, hình thức và phương pháp hoạt động của các cơ quan, nhân viên trong bộ máy nhà nước. Nhờ có pháp luật mà bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng, đồng bô, có hiệu lực và hiệu quả.
Đồng thời, pháp luật cũng là công cụ để đảm bảo quyền lực nhà nước được thực hiện với sự kiểm soát chặt chẽ, nhờ đó, các hiện tượng lạm quyền, vượt quyền, thiếu trách nhiệm. bị hạn chế và loại trừ. Pháp luật là phương tiện thể hiện và thực hiện các chủ trương, đường lối chính sách của lực lượng cầm quyền. Nhờ có pháp luật, chủ trương, chính sách của các lực lượng cầm quyền có thể triển khai nhanh chóng và thực hiện có hiệu quả trong thực tế đời sống.
Pháp luật là phương tiện hữu hiệu để bảo đảm và bảo vệ các quyền tự do dân chủ, các lợi ích của các thành viên trong xã hội. Pháp luật tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia trên thế giới. Đạo đức: Cũng như pháp luật, đạo đức là một hiện tượng xã hội phức tạp, vì thế, cho đến nay, khái niệm này vẫn chưa được nhận thức một cách thống nhất. Trong triết học, đạo đức được hiểu là một hình thái ý thức xã hội, tuy nhiên, có khá nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này.
Có tác giả cho rằng đạo đức là những quan điểm, quan niệm'. Có tác giả cho rằng đạo đức là những nguyên tắc, qui tắc xử sự của con người”. Một số tác giả khác lại cho rằng đạo đức vừa thể hiện ở dạng những quan điểm, quan niệm, vừa thể hiện ở dang các qui tắc xử sự”. Là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức trước hết là những quan điểm, quan niệm, tư tưởng của một cộng đồng người, một giai cấp, một dân tộc về chân, thiện; về hạnh phúc; về danh dự, vinh, nhục; về trách nhiệm và tình thương; về tính trung thực, lòng vị tha, lẽ sống.
Những quan điểm quan niệm này thường tồn tại thành từng cặp đối lập nhau: thiện - ác; tốt - xấu; thật - giả; đúng - sai; cao quí - thấp hèn. Chẳng hạn, nói dối là xấu, trung thực thật thà là tốt; ninh hót là hén, thang thắn, cương trực là cao quí; hi sinh tính mạng vi Tổ quốc là vinh, khom lưng, quì gối trước kẻ thù là nhục. Như vậy, đạo đức không chỉ là những quan niệm, quan điểm về chân, thiện, mi. Nó là tất cả những quan niệm, quan điểm, tư tưởng về "đạo làm người", về vai trò, trách nhiệm của mỗi người trước người khác và trước cộng đồng.
Noi cách khác, những quan niệm, quan điểm đạo đức chính là những yêu cầu, đòi hỏi của cộng đồng xã hội đối với hành vi của mỗi cá nhân trong xã hội. Con người sống trong xã hội dù ở cương vi nào, trong điều kiện hoàn cảnh nào cũng phải ý thức được về chính bản thân mình, ý thức được nghĩa vụ, bổn phận của mình đối với người khác và đối với xã hội. Trên cơ sở các quan niệm, quan điểm, tư tưởng đó, các qui tắc cho xử sự ' Giáo trình Triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999, tr.590; Giáo trình Lý luận về nhà nước - pháp luật, Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội 2002, tr. * Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quan lí ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1999, tr.13; Giáo trình Dao đức hoc, Khoa Triết, Học viện Chính trị quốc gia, Nxb Chính trị quốc gia.
Hà nội 2000, tr.8; Đạo đức học, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1998, tr. 4; Vũ Khiêu - Thành Duy, Đạo Đức và Pháp luật trong triết lý phát triển ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr. * Triết học Mác - Lênin, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1999, tr. Giáo trình Đạo đức học Mác - Lênin, khoa Triết Trường đại học khoa học xã hội và nhân van, Đại học quốc gia Hà Nội.
của con người được hình thành. Từ quan niệm về vinh, nhục, người ta thấy không được khom lưng, quì gối trước kẻ thù; khi Tổ quốc bị xâm lược, phải hi sinh tính mạng vì Tổ quốc. Từ quan niệm về thiện, ác người ta thấy phải cứu giúp người bị nạn, phải giúp đỡ kẻ khốn khó, không được làm bất cứ điều gì có hại cho người khác.