Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Vấn đề quan hệ giữa kinh tế và chính trị nói chung, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam nói riêng là một trong những vấn đề lớn (được xem là một trong chín mối quan hệ lớn cần được quán triệt và xử lý tốt trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội), phức tạp, nhạy cảm nhưng vô cùng quan trọng. Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đã được công bố. Những công trình nghiên cứu liên quan đến lý luận về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam Vấn đề quan hệ giữa kinh tế và chính trị được chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập chủ yếu trong các tác phẩm: “Phê phán cương lĩnh Gôta”; “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”; “Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô viết”; “Kinh tế và chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản”; “Bàn về thuế lương thực”; “Bàn về chế độ hợp tác xã”…Thông qua các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin trên lĩnh vực kinh tế và chính trị đã phản ánh quan điểm và học thuyết về các quy luật chi phối sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ trong xã hội loài người qua các hình thái kinh tế - xã hội. Thứ nhất, theo C.Mác, chính sự phát triển thị trường, hàng hóa công nghiệp hóa và lập ra những đô thị đồ sộ, giai cấp tư sản đã nhanh chóng xóa bỏ được tình trạng phân tán về tư liệu sản xuất và dân cư và tập trung hóa nhanh chóng về mọi mặt.
Xã hội tương lai thay thế xã hội tư bản chủ nghĩa là xã hội cộng sản chủ nghĩa. Xã hội đó “tổ chức theo nguyên tắc của chủ nghĩa tập thể, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất” [80, tr. Xã hội mới ra đời chưa có thể có đầy đủ ngay lập tức những đặc trưng mới về chính trị, xã hội, mà phải trải qua một quá trình xây dựng từng bước, từ thấp đến cao, từ 6 chưa hoàn bị đến hoàn bị, tùy theo điều kiện phát triển của lực lượng sản xuất và bản thân người lao động. Khắc phục những thiếu sót trong giai đoạn đầu của xã hội mới bằng vai trò của nhà nước và của bản thân giai cấp tư sản, nhà nước mới, một mặt ra sức bảo vệ chế độ mới về tư liệu sản xuất, mặt khác bảo vệ sự bình đẳng trong lao động và phân phối sản phẩm.Lênin cho rằng, trong cuộc cách mạng tư sản, “nhiệm vụ chủ yếu của quần chúng lao động là làm một công việc tiêu cực hoặc có tính chất phá hoại” [62, tr.
Ngược lại, nhiệm vụ chủ yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, mà công nhân và nhân dân lao động do giai cấp công nhân lãnh đạo là “một công tác tích cực nhằm thiết lập một mạng lưới các quan hệ tổ chức, một mạng lưới cực kỳ phức tạp và tinh tế, bao trùm sự sản xuất và phân phối một cách có kế hoạch các sản phẩm cần thiết cho đời sống của hàng triệu con người. Một cuộc cách mạng như thế chỉ có thể được hoàn thành thắng lợi, nếu đa số nhân dân và trước hết là đa số những người lao động, chủ động tiến hành một hoạt động sáng tạo có ý nghĩa lịch sử” [62, tr. Sau khi giai cấp công nhân giành được chính quyền, thì trọng tâm của đấu tranh cách mạng phải chuyển sang lĩnh vực kinh tế.Lênin, giai cấp công nhân đã thiết lập được một kiểu nhà nước mới, kiểu Xôviết, nó tạo khả năng cho quần chúng lao động và bị áp bức có thể tham gia hết sức tích cực và chủ động vào công cuộc xây dựng xã hội mới. Thứ ba, trong mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, thì kinh tế là tính thứ nhất, có ý nghĩa quyết định.
Nói đến chủ nghĩa cộng sản là nói đến một hình thái kinh tế xã hội cao nhất, tiến bộ nhất.Lênin đã từng khẳng định, chủ nghĩa tư bản sở dĩ đánh bại chế độ phong kiến, vì nó là một phương thức, một hình thái kinh tế xã hội cao hơn, tiến bộ hơn phương thức sản xuất phong kiến, vì nó “đã tạo ra một năng suất lao động chưa từng thấy dưới chế độ nông nô…chủ nghĩa tư bản có thể bị đánh bại, và sẽ bị đánh bại hẳn, vì chủ nghĩa xã hội tạo ra một năng suất lao động mới, cao hơn nhiều” [63, tr. Và chủ nghĩa xã hội sẽ đánh bại hoàn toàn và triệt để chỉ khi nào 7 tạo ra một năng suất lao động cao hơn, nhiều hơn so với phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Qua đó khẳng định tính tất yếu phải tồn tại nền quá độ trong thời đại chuyên chính vô sản là sự cùng tồn tại lâu dài, đan xen và đấu tranh trong suốt thời đại chuyên chính vô sản giữa các thành phần kinh tế, mà nó phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa. Tóm lại, trong các tác phẩm của mình, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đã làm rõ quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, trong đó kinh tế giữ vai trò quyết định; chính trị tác động trở lại bằng cách lãnh đạo, định hướng, tạo động lực cho phát triển kinh tế.
Kinh tế là cơ sở của đời sống xã hội; sản xuất vật chất là cơ sở của nhà nước, pháp quyền và ý thức xã hội; sở hữu tư nhân là cơ sở của xã hội đối kháng giai cấp; sở hữu xã hội là cơ sở của xã hội xã hội chủ nghĩa. Khi phân tích mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, quan hệ giữa kinh tế và chính trị là quan hệ biện chứng, chi phối các quan hệ khác trong đời sống xã hội. Sự quyết định suy đến cùng của kinh tế đối với chính trị thể hiện vai trò của cơ sở kinh tế, nguyên nhân, điều kiện và các quan hệ giữa kinh tế đối với các hiện tượng chính trị. Vai trò tích cực của chính trị đối với kinh tế thể hiện tập trung nhất vai trò của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng; vai trò của đảng chính trị đối với xã hội.
Ở nước ta, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có vị trí rất quan trọng trong các mối quan hệ lớn cần đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt trong quá trình đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội. Việc nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là khâu đột phá trong tư duy và thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới của Đảng. Đảng ta luôn đặt mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị là mối quan hệ cơ bản trong quá trình phát triển đất nước, ổn định chính trị để phát triển kinh tế, phát triển kinh tế để giữ vững ổn định chính trị đã trở thành nguyên tắc trong quá trình Đảng lãnh đạo tiến trình cách mạng nước ta. Vì vậy, Đảng ta đã khởi đầu công cuộc đổi mới, bằng đổi mới toàn diện và sớm chú trọng giải quyết đúng 8 đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.
Quan hệ giữa kinh tế và chính trị đã được Đảng Cộng sản Việt Nam cụ thể hóa trong các văn kiện, Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là thời kỳ đổi mới - từ năm 1986 đến nay: - Trên thực tế, từ cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, đất nước ta đã lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng về kinh tế - xã hội. Và một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng chính là những khuyết điểm trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị “là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện” [21, tr. Nếu không có những yếu tố tác động về chính trị, công cuộc đổi mới sẽ chỉ dừng lại ở đổi mới kinh tế - xã hội, sẽ không có quá trình kết hợp chặt chẽ và ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị trong quá trình tiếp theo - Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác.
Song, Đảng ta đã đúng khi tập trung trước hết vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo thuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống xã hội. Như vậy, việc sử dụng khái niệm “hệ thống chính trị” đã phản ánh và đáp ứng yêu cầu chuyển đổi từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. “Chế độ chính trị của chúng ta là chế độ làm chủ của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng…Chúng ta không chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên chính trị, không để cho các tổ chức chống đối chủ nghĩa xã hội ra đời và hoạt động, không coi việc thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần là thực hiện chủ trương đa nguyên về kinh tế” [22, tr. - Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), “quan hệ giữa đổi mới kinh tế và 9 đổi mới chính trị” là một trong những mối quan hệ lớn cần đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trong những năm tới, cần “Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương…” [32, tr. Với quan điểm “Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [32, tr.