Mở đầu Ngày nay, rất nhiều tai nạn công nghiệp kèm theo các vụ nổ đang xảy ra trên khắp thế giới. Các vụ tai nạn cháy nổ xảy ra tại các khu công nghiệp cất chứa những hóa chất dễ phát nổ có thể tạo ra sóng xung kích ảnh hưởng đến khu vực dân cư lân cận. Để cải thiện sự an toàn của các tòa nhà, cần nghiên cứu các phư ng án thiết kế sao cho tăng sức đề kháng của chúng đối với các hiệu ứng nổ. Việc dự đoán được mức độ thiệt hại do tải nổ gây ra với các cường độ khác nhau là cần thiết.
Một trong những mục tiêu chính trong việc thiết kế cấu trúc chống lại các hiệu ứng nổ là xác định đáp ứng động lực học của các cấu trúc đối với tác động của sóng nổ và cần khảo sát sự thay đổi của áp lực do sóng nổ gây ra theo thời gian. Tai nạn nổ nhà máy hóa học Theo M. Remennikov, hiện nay có ba nhóm phư ng pháp để đoán tải trọng nổ tác dụng lên công trình như sau: Phư ng pháp thực nghiệm: về bản chất có liên quan đến các dữ liệu thí nghiệm. Một trong những hạn chế của nhóm phư ng pháp này là bỏ qua bản chất vật lý thực của hiện tượng tư ng tác giữa sóng nổ và kết cấu, bởi vì chúng được thiết lập với giả 2 định rằng lộ trình tải trọng - thời gian được áp dụng cho tất cả các phần tử bề mặt kết cấu cùng một lúc.
Phư ng pháp bán thực nghiệm: dựa trên các mô hình được đ n giản hóa của các hiện tượng vật lý. Độ chính xác trong việc ước đoán bằng phư ng pháp bán thực nghiệm thường tốt h n độ chính xác được cung cấp bởi các phư ng pháp thực nghiệm. Theo nhóm này, tải trọng nổ tác dụng lên tường ngoài của một công trình được tính toán dựa trên trọng lượng thuốc nổ tư ng đư ng TNT, vị trí của tác nhân nổ đối với công trình và sự giả định về mô hình truyền sóng liên quan. Phư ng pháp số: là các phư ng pháp dựa trên các phư ng trình toán học mô tả các định luật vật lý c bản chi phối bài toán.
Những phư ng pháp này bao gồm định luật bảo toàn khối lượng, định luật bảo toàn động lượng và định luật bảo toàn năng lượng. Mô phỏng hiện tượng nổ trong khu vực dân cư bằng phương pháp số Khảo sát ứng xử của kết cấu khi có tác dụng của sóng nổ là một vấn đề có tính thực tế cao. Hầu hết các nghiên cứu trên đều dựa vào phương pháp số thông qua các phần mềm phân tích phi tuyến trên cơ sở so sánh với kết quả thí nghiệm. Trong khi đó, thí nghiệm nổ rất tốn kém, liên quan đến vấn đề an toàn và gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái.
Do đó, việc tính toán mô phỏng ứng xử của kết cấu dưới sự tác dụng của tải nổ là việc cần thiết và có ý nghĩa thiết thực về mặt an toàn và kinh tế 3 Luận văn xây dựng mô hình khu dân cư và sử dụng phần mềm ANSYS để mô phỏng ứng xử c học của khu dân cư dưới tác động của tải trọng nổ bằng phân tích tư ng tác rắn lỏng dựa trên phư ng pháp phần tử hữu hạn và phư ng pháp thể tích hữu hạn. Các kết quả về áp suất phân bố lên kết cấu do sóng nổ gây ra và sự lan truyền của sóng nổ trong không gian ba chiều sẽ được phân tích chi tiết. Tải trọng gây nổ 1. Hiện tƣợng nổ Nổ là hiện tượng có thể xảy ra khi các chất bị đốt nóng hoặc phân hủy đột ngột tạo ra một lượng lớn nhiệt và trong một khoảng thời gian ngắn.
Các loại vũ khí nổ như bom, đầu đạn… đều có cấu tạo c bản gồm có chất nổ, thiết bị kích nổ và vỏ bọc ngoài. Khi chất nổ bị kích hoạt bằng nhiệt hoặc xung động, hợp chất nổ xảy ra cả phản ứng phân hủy và phản ứng cháy. Các chất hóa học chứa rất nhiều năng lượng, đây là lực liên kết giữa các nguyên tử khác nhau trong cùng một phân tử của chất đó, khi phản ứng nổ bắt đầu xảy ra, phần lớn năng lượng này được giải phóng tạo ra một lượng nhiệt khổng lồ và giải phóng ra các chất khí. Các chất khí trong chất hóa học bị nén dưới áp lực lớn, do đó, khi hiện tượng nổ xảy ra, các chất khí này nở bung ra với vận tốc rất nhanh, nhiệt lượng được giải phóng kèm theo trong phản ứng nổ thậm chí còn tăng vận tốc của các chất khí này lên rất nhiều lần và tạo ra các sóng xung động 1.
Sóng nổ Là sóng được tạo thành sau một vụ nổ và ở trong một chất nổ. Sóng nổ là sóng chấn động do thuốc nổ, bom, mìn, đạn pháo cỡ lớn, bộc phá, thủy lôi, bình ga, bình điện, các vụ hỏa hoạn xăng dầu. cháy nổ tạo nên. Sóng nổ phát ra từ tâm vụ nổ tỏa ra theo vòng tròn với một áp suất rất cao.
Độ lớn của áp suất và tốc độ của sóng nổ giảm dần khi truyền đi xa tâm vụ nổ. Đại lượng đo sóng nổ tính bằng kg/cm3, đại lượng này còn được gọi là xung lượng của sóng nổ. Khi một vụ nổ được kích nổ trong không khí, nó sẽ giải phóng ra một lượng nhiệt khổng lồ và các sản phẩm khác vào môi trường xung quanh với một tốc độ cao (~7200m/s). Việc mở rộng nhanh chóng của các sản phẩm nổ tạo ra một làn sóng chấn động có liên tục trong áp suất, mật độ, nhiệt độ và tốc độ.
Đặc điểm tải nổ 1. Sóng xung kích 1. Định nghĩa Sóng xung kích là một mặt gián đoạn lan truyền trong các môi trường vật chất (thường gặp trong môi trường chất lưu như môi trường chất khí, chất lỏng, plasma,.) mà khi đi qua mặt truyền sóng các thông số khí động, nhiệt động như mật độ, áp suất, nhiệt độ, vận tốc, entropy,. bị gián đoạn với các bước nhảy hữu hạn.
Cần phân biệt sóng xung kích với các sóng xuất hiện từ các va chạm sinh ra. Trong trường hợp sau thì không phải bản thân các thông số khí động và nhiệt động gián đoạn trên mặt truyền sóng mà là đạo hàm của chúng bị gián đoạn. Sóng xung kích từ một vụ nổ 1. Các tính chất vi mô của sóng xung kích Từ cái nhìn vĩ mô sóng xung kích được xem xét như một mặt tưởng tượng mà trên đó các đại lượng nhiệt động lực học của môi trường (các thông số này về nguyên tắc là các hàm liên tục theo không gian) có các điểm kì dị có thể bỏ qua: bước nhảy hữu hạn.
Khi đi qua mặt truyền sóng xung kích giá trị của áp suất, nhiệt độ, mật độ vật chất của môi trường, và cả vận tốc chuyển động của môi trường đối với mặt truyền sóng xung kích đều có sự đột biến. Tất cả các đại lượng này biến đổi không độc lập tuyến tính mà liên hệ bởi một đặc tính duy nhất của sóng xung kích - số Mach. Phư ng trình toán học liên hệ các đại lượng nhiệt động trước và sau mặt truyền sóng xung kích được gọi là hệ thức đẳng áp xung kích, hoặc là đẳng áp Hugoniot (Hu-gô-ni-ô) 1. Cấu trúc vi mô của sóng xung kích 6 Độ dày của sóng xung kích cường độ lớn thường vào khoảng độ dài bước nhảy tự do của phân tử khí (chính xác h n là khoảng 10 lần độ dài bước nhảy tự do, và không thể nhỏ h n 2 lần giá trị này; kết quả này được đưa ra bởi Chapman vào những năm đầu thập kỉ 50).
Trong khí động lực học vĩ mô thì độ dài chuyển động tự do được xem là vô cùng nhỏ (xấp xỉ bằng không), các phư ng pháp khí động học đ n thuần không thể đem ứng dụng vào việc nghiên cứu cấu trúc của sóng xung kích với cường độ lớn. Để phục vụ mục đích nghiên cứu lý thuyết về cấu trúc của sóng xung kích người ta thường sử dụng lý thuyết động học. Bài toán về cấu trúc của sóng xung kích không có lời giải giải tích, nhưng cũng có thể sử dụng các mô hình đã được đ n giản hóa. Một trong những mô hình đó là mô hình Tamm-Mott-Smith.
Sự ảnh hưởng của sóng xung kích lên kết cấu theo thời gian 1. Vận tốc truyền sóng xung kích Vận tốc truyền sóng xung kích trong môi trường cao h n vận tốc âm thanh trong môi trường đó. Cường độ sóng càng lớn thì vận tốc truyền sóng càng cao. Cường độ 7 của sóng xung kích được đánh giá dựa vào tỉ lệ giữa độ chênh lệch áp suất trước và sau mặt truyền sóng so với áp suất của môi trường.
Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài Trên thế giới đã nhiều nghiên cứu về vấn đề ứng xử c học của kết cấu dưới tác dụng của các loại tải trọng nổ thông qua phư ng pháp thực nghiệm phư ng pháp số. Michele Bounsanti và các cộng sự (2013) đã nghiên cứu ứng xử c học của kết cấu đường hầm dưới tác động của tải nổ thông qua mô phỏng số ba chiều. Rong-Bing Deng và Xian-Long Jin (2009) đã mô phỏng sự phá hủy của kết cấu cầu khi có sự tác động của tải nổ.
Các kết quả tính toán đều được đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về vấn đề ứng xử c học của kết cấu dưới tác dụng của các loại tải trọng nổ bằng phư ng pháp số nhưng khá ít. Hầu hết là các kết cấu đường hầm hoặc liên quan đến các công trình quân sự. Chủ yếu là sử dụng phư ng pháp thực nghiệm.
Đặng Văn Kiên (2018) đã nghiên cứu ảnh hưởng của chấn động nổ mìn khi thi công đường hầm đến kết cấu công trình ngầm lân cận thông qua luận án tiến sĩ kỹ thuật. Vũ Đình Lợi và các đồng nghiệp vào năm 2015 đã nghiên cứu thực nghiệm tác dụng giảm chấn của công trình chịu tải trọng sóng xung kích dưới nước ở quần đảo trường sa và kết quả được đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển. Bên cạnh đó, tại Học viện Kỹ thuật Quân sự, GS. Nguyễn Văn Hợi và các cộng sự đã tính tải trọng sóng nổ tác dụng lên công trình đặt trong môi trường đất bão hòa nước theo mô hình đàn hồi nhớt phi tuyến.