ĐẶT VẤN ĐỀ Trước tình trạng dân số thế giới ngày càng tăng, đồng thời nền kinh tế toàn cầu phát triển mạnh mẽ, nhu cầu sử dụng năng lượng ngày càng tăng là một điều tất yếu, bên cạnh đó nguồn nhiên liệu hóa thạch đang dần cạn kiệt theo từng ngày. Điều này là một trong những lý do dẫn đến việc năng lượng tái tạo đã được thiết lập trên toàn cầu như một nguồn phát điện chính trong khoảng một thập kỷ qua [1]. Trong khi đó, nguồn năng lượng thủy điện từ các nhà máy thủy điện ngày càng bị hạn chế do sự tác động tới môi trường trong suốt quá trình khai thác lâu dài. Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh rằng các nguồn năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng mặt trời và gió, có thể là những lựa chọn thay thế phù hợp cho các nguồn năng lượng truyền thống để đáp ứng nhu cầu toàn cầu và bảo vệ môi trường khí quyển [2].
Tỷ trọng năng lượng tái tạo trong sản xuất điện tiếp tục tăng trên khắp thế giới trong những năm gần đây, với nhu cầu ngày càng tăng về năng lượng tái tạo nói riêng và năng lượng điện nói chung trên toàn thế giới dẫn đến cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu. Điều này đã thúc đẩy nhiều nhà khoa học tham gia điều tra, nghiên cứu phát triển nhiều nguồn năng lượng tái tạo khác nhau, đặc biệt là năng lượng mặt trời đồng thời phát triển các phương pháp, kỹ thuật chuyển đổi bức xạ mặt trời thành điện năng nhằm mang lại hiệu suất tối ưu [3]. Việc dự báo sản lượng điện năng lượng mặt trời bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như điều kiện thời tiết, vị trí lắp đặt, môi trường xung quanh, loại hình và quy mô dự án khác nhau,. Do đó, việc dự báo chính xác sản lượng điện mặt trời là khá khó khăn, rất cần thiết trong việc tối ưu sử dụng nguồn tài nguyên này và cực kỳ quan trọng đối với nền công nghiệp điện mặt trời đồng thời là căn cứ thúc đẩy sự triển khai trên quy mô lớn.
Có nhiều phương pháp khác nhau đã được áp dụng để dự báo các nguồn năng lượng mặt trời [2]. Hiện nay các thuật toán trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) được ứng dụng rất rộng rãi trong quản lý xây dựng với khả năng “học” từ các dữ liệu trong quá khứ. Đối với hệ thống điện mặt trời, AI có thể tham gia vào tất cả các khía cạnh của việc thiết kế hệ thống quang điện như điều khiển, giám sát và nghiên cứu nhằm hướng tới các hệ thống quang điện thông minh trong tương lai [3]. HVTH: fNguyễn fPhúc fHạnh f Trang 1 GVHD1: fTS.
fNguyễn fĐăng fTrình Luận fvăn thạc sĩ GVHD2: fPGS. fTrần fĐức fHọc Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo tự động hóa quá trình ước lượng năng suất điện mặt trời thông qua công suất sản sinh quang điện dựa trên các số liệu đo đạc thực tế và yếu tố ảnh hưởng khách quan không chỉ để tăng hiệu quả dự báo, mà còn để loại trừ các yếu tố sai sót do các yếu tố chủ quan do không lường hết các điều kiện ảnh hưởng khi ước lượng bằng các phương pháp tính toán truyền thống thông thường. Trong những thuật toán trí tuệ nhân tạo được sử dụng phổ biến hiện nay, phương pháp học máy (Machine Learning) sử dụng kỹ thuật học có giám sát (Supervised Learning) là một trong những phương pháp được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực khai phá dữ liệu. Căn cứ vào đó, đồng thời dựa trên các nghiên cứu trước, tác giả nhận thấy việc sử dụng thuật toán Least Square Support Vector Machine (LSSVM) là một phiên bản điều chỉnh của thuật toán Máy hỗ trợ véc-tơ (Support Vector Machine) kết hợp với thuật toán Tiến hóa vi phân (Differential Evolution) trên mang lại hiệu quả cao trong các vấn đề của lĩnh vực khai phá dữ liệu, luận văn đề xuất sử dụng kết hợp hai thuật toán này để xây dựng, thực hiện và đánh giá mô hình dự đoán năng suất dự án điện năng lượng mặt trời.
Để mô hình dự đoán đạt hiệu quả cao, luận văn tổng hợp và sử dụng một số kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu trước và sử dụng tập dữ liệu được thu thập từ những nguồn dữ liệu đo lường thực tế uy tín có thể được sử dụng cho các nghiên cứu khoa học. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI Nhìn chung, đề tài này đem lại mục tiêu chính là tìm ra và ứng dụng thuật toán trí tuệ nhân tạo tối ưu để dự đoán công suất sản xuất năng lượng điện mặt trời ở Việt Nam. Phân tích cụ thể hơn nữa, đề tài giúp làm rõ hơn sự ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng chính đến công suất của các dự án sản xuất năng lượng mặt trời ở Việt Nam được tổng hợp từ các nghiên cứu trước. Đồng thời, căn cứ vào dữ liệu từ các nghiên cứu trước, đề tài còn xây dựng nên các mô hình sử dụng thuật toán trí tuệ nhân tạo (Artificial intelligence - AI) và phương pháp học máy (Machine Learning) nhằm ước tính công suất sản xuất năng lượng mặt trời hiệu quả cao và phân tích đề xuất mô hình tối ưu trong các mô hình được đề cập đến.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU Về phạm vi địa lý, các dự án điện năng lượng mặt trời được nghiên cứu trong nước Việt Nam, được tổng hợp đầy đủ ở tất cả các vùng khí hậu khác nhau. HVTH: fNguyễn fPhúc fHạnh f Trang 2 GVHD1: fTS. fNguyễn fĐăng fTrình Luận fvăn thạc sĩ GVHD2: fPGS. fTrần fĐức fHọc Loại hình các dự án điện năng lượng mặt trời được khảo sát trải đều ở 4 loại hình dự án được xây dựng phổ biến hiện tại như: hệ thống điện mặt trời trên mái nhà dân dụng, hệ thống điện mặt trời trên mái nhà công nghiệp, hệ thống nhà máy điện năng lượng mặt trời trên mặt đất, hệ thống nhà máy điện năng lượng mặt trời trên mặt nước.
Về phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng các thuật toán trí tuệ nhân tạo nói chung và sử dụng kỹ thuật học máy nói riêng, cụ thể luận văn nghiên cứu sử dụng thuật toán LSSVM và DE để dự đoán năng suất dự án điện năng lượng mặt trời. ĐÓNG GÓP NGHIÊN CỨU 1. Đóng góp về mặt học thuật Nghiên cứu tổng hợp bộ dữ liệu đo lường thực tế gồm 100 dự án điện năng lượng mặt trời ở Việt Nam trải khắp đất nước từ Miền Bắc vào Miền Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn đóng góp mô hình thuật toán học máy LSSVM và tiến hóa vi phân (DE) được xây dựng trên phần mềm Matlab, đồng thời chỉ ra kết quả đánh giá mô hình sử dụng thuật toán LSSVM kết hợp DE là tối ưu hơn so với mô hình chỉ sử dụng thuật toán LSSVM.
Đóng góp về mặt thực tiễn Thông qua kết quả của nghiên cứu, các nhà đầu tư có thể lựa chọn vị trí xây dựng và ước lượng được năng suất dự án điện năng lượng mặt trời trong giai đoạn thực hiện nghiên cứu tiền khả thi dự án đầu tư. Đồng thời, các nhà đầu tư cũng có thể dự báo được năng suất của dự án khi thay đổi quy mô dự án. Từ đó dựa vào nghiên cứu này, nhà đầu tư có thêm giải pháp để ước tính được năng suất và lợi nhuận mang lại trước khi thực hiện dự án và vạch ra trước kế hoạch thực hiện dự án. HVTH: fNguyễn fPhúc fHạnh f Trang 3 GVHD1: fTS.
fNguyễn fĐăng fTrình Luận fvăn thạc sĩ GVHD2: fPGS. fTrần fĐức fHọc CHƯƠNG 2 - TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. TỔNG QUAN VỀ NĂNG LƯỢNG ĐIỆN 2. Tổng quan năng lượng điện trên thế giới Sự xuất hiện và lây lan nhanh chóng của COVID-19 vào cuối năm 2019 đã biến thành đại dịch toàn cầu vào đầu năm 2020, gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế và sức khỏe toàn cầu, chính điều này cũng góp phần ảnh hưởng đến vấn đề năng lượng trên toàn thế giới.
Dữ liệu của các quốc gia đại diện cho hơn một phần ba nhu cầu điện toàn cầu cho thấy mỗi tháng đóng cửa hoàn toàn làm giảm nhu cầu điện trung bình 20%. Riêng trong quý đầu của năm 2020, nhu cầu điện toàn cầu giảm 2,5%, và nhu cầu về than và dầu lần lượt giảm gần 8% và 5%. Năng lượng tái tạo là nguồn điện duy nhất ghi nhận tăng trưởng nhu cầu trong giai đoạn này, do chi phí vận hành thấp và khả năng tiếp cận mạng lưới điện ưu đãi [4]. Trong các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng gió và mặt trời đã trở thành nguồn điện chính và ngày càng có giá thành cạnh tranh với các nhà máy điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch.
Gần như ở khắp mọi nơi trên thế giới, sản xuất điện từ năng lượng tái tạo tiết kiệm chi phí hơn so với sản xuất từ các nhà máy nhiệt điện than [5]. Theo thống kê tính đến năm 2018, năng lượng tái tạo hiện đại (không bao gồm năng lượng sinh khối truyền thống) chiếm khoảng 11% tổng mức tiêu thụ năng lượng (Total Final Energy Consumption – TFEC). Trong đó, phần lớn nhất là điện tái tạo (5,7% TFEC), tiếp theo là nhiệt tái tạo (4,3%) và nhiên liệu sinh học vận tải (1,0%) [4].2% Năng lượng hạt nhân Nhiên liệu hóa thạch 6.9% Năng lượng gió, mặt trời, Sinh học Sinh khối sinh khối, địa nhiệt vận tải truyền thống 2.6% đại Năng lượng thủy điện 4.3% Sinh khối, mặt trời, địa nhiệt Hình 2. Tỷ lệ năng lượng tái tạo ước tính của tổng mức tiêu thụ năng lượng 2018 [4] HVTH: fNguyễn fPhúc fHạnh f Trang 4 GVHD1: fTS.
fNguyễn fĐăng fTrình Luận fvăn thạc sĩ GVHD2: fPGS. fTrần fĐức fHọc Năng lượng tái tạo đang phát triển ở tất cả các nơi trên thế giới. Trên toàn cầu, 32 quốc gia đã có ít nhất 10 GW công suất điện tái tạo vào năm 2019, tăng so với chỉ 19 quốc gia một thập kỷ trước đó [6]. Tiềm năng năng lượng tái tạo đặc biệt là điện mặt trời trên thế giới rất dồi dào, cần tăng cường khai thác hiệu quả để thay thế nguồn năng lượng hóa thạch và các nguồn năng lượng ảnh hưởng đến môi trường, góp phần phục vụ nhu cầu năng lượng toàn cầu, xem Hình 2.
Bản đồ tiềm năng năng lượng quang điện trên thế giới 2. Tổng quan năng lượng điện trong nước Nhu cầu năng lượng của Việt Nam được dự báo sẽ tăng trên 8% mỗi năm trong giai đoạn 2021-2030. Nhu cầu điện dự kiến là 265-278 tỷ kWh vào năm 2020, tăng lên 572-632 tỷ kWh vào năm 2030 so với 86 tỷ kWh vào năm 2010 [7], Việt Nam cần bổ sung 6.000MW công suất hàng năm với chi phí 148 tỷ USD vào năm 2030 [8].