MỞ ĐẦU Từ xa xưa đến xã hội ngày nay, thực phẩm luôn là mối quan tâm hàng đầu trong vấn đề duy trì xã hội loài người. Cùng với sự phát triển của tiến bộ khoa học và kĩ thuật, ngành khoa học về chế biến thực phẩm cũng phát triển tương xứng, tạo ra sản phẩm đa dạng, đáp ứng nhu cầu ngày càng khắt khe của người tiêu dùng. Quy hoạch thực nghiệm là cơ sở phương pháp luận của nghiên cứu thực nghiệm hiện đại. Lý thuyết thực nghiệm mới cho phép lựa chọn chiến lược nghiên cứu tối ưu trong khi chưa hiểu biết quá trình một cách toàn diện.
Đối tượng càng phức tạp, hiệu quả của phương pháp này càng cao. Người nghiên cứu tìm được mô hình toán học của quá trình để giải bài toán tối ưu theo quan điểm mới và sử dụng mô hình để xem xét điều kiện quá trình. Bài toán tìm kết quả của một phản ứng hóa-sinh học với nhiều yếu tố đầu vào khác nhau là một hệ phức tạp, rất phù hợp để áp dụng phương pháp này. Phản ứng thủy phân tinh bột chẳng hạn, các yếu tố đầu vào gồm nhiều yếu tố ảnh hưởng khác nhau như: hóa chất, enzim, nhiệt độ, môi trường, pH, thời gian,.
Bản thân các yêu tố này cũng có tác động lẫn nhau khi tham gia quá trình. Trong luận văn này nghiên cứu cách áp dụng phương pháp điều khiển quá trình cho phản ứng thuỷ phân tinh bột từ nguyên liệu ngô. Nước ta là nước nông nghiệp với sản lượng lương thực lên đến 39,9 triệu tấn, trong đó ngô là nguồn nguyên liệu chưa được chú trọng tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, chủ yếu mới chỉ sử dụng cho gia súc. Từ các nguyên liệu giàu tinh bột này qua các giai đoạn dịch hoá, đường hoá, lên men và kết hợp với các yếu tố sinh, hoá, lý khác nhau…tạo ra nhiều sản phẩm đa dạng như bánh kẹo, rượu, đồ uống… ---------------------------------------------------------------------------------------------- Đặng Thanh Thủy Điều khiển quá trình phản ứng 6 Trong quá trình thuỷ phân tinh bột, enzim đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong suốt thời gian phản ứng.
Chúng có thể tạo ra các thành phần khác nhau như gluco, malto, dextrin… và thay đổi tỷ lệ của mỗi thành phần trong hỗn hợp. Quá trình phản ứng xảy ra khá phức tạp, cho đến nay người ta cũng chỉ dừng ở mức nhận biết được các kết quả đầu ra so với các yếu tố đầu vào của phản ứng cũng như xác định các thay đổi của các yếu tố tham gia quá trình phản ứng như thời gian, nhiệt độ, pH, nồng độ enzim…Trong đề tài này nghiên cứu cách áp dụng phương pháp điều khiển quá trình cho phản ứng thuỷ phân tinh bột từ nguyên liệu ngô. Luận văn giải quyết những vấn đề sau đây: 1. Lựa chọn phương pháp thuỷ phân bột ngô 2.
Lựa chọn các nguyên liệu và loại enzim phù hợp cho thực hiện phản ứng thuỷ phân. Xây dựng phương pháp thực nghiệm 4. Tiến hành thực nghiệm lấy số liệu 5. Xây dựng đường hồi quy thực nghiệm dựa trên các số liệu có được 6.
Xây dựng đường hồi quy lý thuyết theo phương pháp bình phương bé nhất. Kiểm tra xác nhận đường hồi quy lý thuyết bằng các chuẩn thống kê toán học và các thực nghiệm. Đưa ra các kết luận về phương pháp và các điểm cần được phát triển, đòi hỏi có thời gian nghiên cứu sâu hơn. ---------------------------------------------------------------------------------------------- Đặng Thanh Thủy Điều khiển quá trình phản ứng 7 Phần II TỔNG QUAN II.
Đặc điểm cấu tạo của Ngô (Corn/Maize) II. Cấu tạo Ngô là giống cây được cho rằng có nguồn gốc từ Mexico và vùng Trung Mỹ. Ngô là cây lương thực quan trọng sau lúa mì và gạo, là một trong những loại cây lương thực quan trọng. Từ ngô chế biến được nhiều loại thực phẩm cho người, nguyên liệu công nghiệp và thức ăn gia súc.
Đặc biệt ngô là nguồn sản xuất tinh bột nhiều nhất và quan trọng nhất so với các loại ngũ cốc khác. Hạt ngô được dùng nhiều trong công nghiệp sản xuất rượu, bia, tinh bột, đường glucoza.Phôi ngô để ép dầu ngô và sản xuất vitamin E, vitamin B1. [6] Hạt ngô về mặt thực vật là loại quả dĩnh; một hạt riêng rẽ có vỏ hạt và hạt. Có 4 cấu trúc chính: vỏ hạt, phôi mầm, phôi nhũ và cuống hạt.
[19] Tỷ lệ giữa các thành phần này của một số loại ngũ cốc như sau: Bảng II-1 Tỷ lệ trọng lượng vỏ, phôi và nội nhũ Loại hạt Vỏ, % Phôi, % Nội nhũ, % Lúa 16,0 – 27,0 2,0 – 2,5 72 Ngô 5,0 - 8,5 10,0 – 15,0 79 – 83 Lúa mì 15,0 - 19,0 2,2 – 3,2 77 – 82 1. Vỏ Là bộ phận bảo vệ cho phôi và nội nhũ khỏi bị tác động cơ học cũng như hóa học từ bên ngoài. Thành phần chính của vỏ là xenluloza, hemixenluloza, lignin, không có dinh dưỡng. Lớp alơrong và nội nhũ ---------------------------------------------------------------------------------------------- Đặng Thanh Thủy Điều khiển quá trình phản ứng 8 Bên trong của lớp vỏ là lớp alơrong được cấu tạo từ một hàng tế bào lớn, thành dày.
Trong tế bào alơrong có chứa hợp chất nitơ, các chất khoáng và các giọt chất béo. Sau lớp alơrong là các tế bào lớn, thành mỏng có hình dạng khác nhau, sắp xếp không thứ tự. Đó là các tế bào nội nhũ. Nội nhũ là phần dự trữ chất dinh dưỡng của hạt.
Thành phần chủ yếu của tế bào nội nhũ là tinh bột và protein. Ngoài ra trong nội nhũ còn có một lượng nhỏ chất béo, muối khoáng và sinh tố. Phôi Phôi là phần phát triển thành cây non khi hạt nảy mầm, vì thế có khá nhiều chất dinh dưỡng: 35% protein, 25% các gluxit hòa tan, 40% chất béo. Phần lớn lượng sinh tố và enzim của hạt đều tập trung ở phôi.
[5] Bảng II-2 Sự phân bố thành phần hóa học trong từng phần của hạt ngô Thành phần hóa học Vỏ hạt Nội nhũ Mầm Protein 3,7 8,0 18,4 Chất béo 1,0 0,8 33,2 Chất xơ thô 86,7 2,7 8,8 Tro 0,8 0,3 10,5 Tinh bột 7,3 87,6 8,3 Đường 0,34 0,62 10,8 ---------------------------------------------------------------------------------------------- Đặng Thanh Thủy Điều khiển quá trình phản ứng 9 Đồ thị II-1 Tỷ lệ các thành phần trong nội nhũ của hạt ngô II. Thành phần hoá học Yêu cầu về chất lượng ngô tùy thuộc vào mục đích sử dụng như sản xuất tinh bột, đường glucoza.cần loại ngô có hàm lượng tinh bột cao, hàm lượng protit và chất béo thấp. Ngày nay có rất nhiều giống ngô lai mới nhằm cải thiện tính chất và thành phần. Dưới đây là một số loại ngô và thành phần hóa học của chúng (% theo chất khô) [5, 19, 20] Bảng II-3 Thành phần hoá học của một số loại ngô Loại ngô Protit Tinh bột Lipid Tro Ngô bột 11,3 64,2 7,2 1,05 Ngô răng ngựa 12,2 61,5 7,7 1,16 Ngô đá 12,3 60,0 7,9 1,28 Ngô sáp 12,9 61,6 7,8 1,10 Ngô đường 13,8 31,2 14,4 1,37 Ngô nổ 14,3 59,9 6,36 1,33 ---------------------------------------------------------------------------------------------- Đặng Thanh Thủy Điều khiển quá trình phản ứng 10 Đồ thị II-2 Hàm lượng tinh bột ở các loại ngô khác nhau.
Ngoài các thành phần trên, trong ngô còn có khoảng 1,6- 2,7% xenluloza; 1,5- 5% đường; 1,0- 6% dextrin; 7- 8% pentozan. Trong ngô còn chứa nhiều loại vitamin: caroten có nhiều trong ngô vàng; ít trong hạt ngô vỏ trắng; vitamin nhóm B cũng có nhiều trong ngô, vitamin E có khoảng 0,23% trong dầu ngô; vitamin D và C có một lượng nhỏ trong ngô non. Qua số liệu bảng trên thấy rằng, hạt ngô chứa nhiều chất béo hơn hạt ngũ cốc khác. Có loại ngô chứa tới 14- 15% chất béo và tập trung chủ yếu ở phôi ngô.
[6] Vỏ hạt có hàm lượng chất xơ thô cao khoảng 87%, cấu thành chủ yếu bởi hemicelluloza 67%, celluloza 23% và lignin 0,1%. Mặt khác, nội nhũ chứa lượng tinh bột cao 87,6% và lượng protein khoảng 8%. Hàm lượng chất béo thô trong nội nhũ tương đối thấp. Cuối cùng mầm chứa hàm lượng chất béo cao, trung bình khoảng 33%.
Mầm cũng chứa một lượng protein tương đối cao 18,4% và các chất khoáng. Khoảng 92% lượng protein ở teosinte (ngô dại) nằm ở nội nhũ. [6] Tinh bột chiếm chủ yếu trong nội nhũ và toàn hạt ngô. Ngô đường ít tinh bột hơn nhưng lại giàu đường và dextrin hơn các loại ngô khác.
Là thành phần chính của hạt ngô, chiếm tới 72- 73% trọng lượng hạt. Những hydrat cacbon khác phải là những đường đơn như glucoza, saccaroza, và fructoza chiếm từ 1- 3% trọng lượng hạt. Tinh bột ngô được cấu thành từ 2 thành phần chính: ---------------------------------------------------------------------------------------------- Đặng Thanh Thủy Điều khiển quá trình phản ứng 11 amyloza và amylopectin. Phần amyloza (có trọng lượng phân tử khoảng 250.000Da) chiếm 25- 30% và amylopectin (có trọng lượng phân tử khoảng 50-500 triệu Da) chiếm 70- 75%.
Ngô nếp chứa 100% là amylopectin. Hình II-1 Cấu tạo của amyloza và amylopectin So với bột mì thì ngô ít protit hơn nhưng ngô lại chứa nhiều protit hơn thóc (gạo). Tuy nhiên, trong protit của ngô thường thiếu 2 axit amin không thay thế là lyzin và triptophan. [19] Bảng II-4 Thành phần amyloza của một số loại nguyên liệu giàu tinh bột Tên nguyên liệu Amyloza (%) Amylopectin (%) Ngô 25 75 Ngô nếp 0 100 Ngô giàu amyloza 77 23 Gạo 15- 35 65- 85 Gạo nếp 1- 2 98- 99 Khoai tây 23 77 Sắn 20 80 Đậu 40 62 Đại mạch 17- 24 76- 83 ---------------------------------------------------------------------------------------------- Đặng Thanh Thủy Điều khiển quá trình phản ứng 12 Bảng II-5 Tính chất tinh bột của một số loại nguyên liệu giàu tinh bột Nguyên liệu Hình dạng Kích thước (µm) Nhiệt độ hồ hoá (0C) Ngô đa giác, tròn 5- 25 65- 75 Gạo đa giác 2- 10 70- 85 Đại mạch bầu dục 5- 40 75- 85 Sắn tròn 5 –35 52- 69 Khoai tây bầu dục 30- 150 55- 69 Rong 80- 87 Hạt tinh bột ngô có cấu tạo đơn giản, hình đa giác, có một vài hạt tròn.
Kích thước hạt tinh bột ngô 5- 35µm, không đều nhau. Nhiệt độ hồ hoá của tinh bột Maize starch ngô khoảng 65- (Amylum Maidis): 750C. Polygonal, rounded or spherical granules up to about 35 µm in diameter and usually having a circular or several-rayed cleft. Hình II-2 Hình dạng, kích thước của tinh bột ngô Sự biến đổi của hạt tinh bột ngô trong quá trình hồ hoá được thể hiện qua hình II- 3: ---------------------------------------------------------------------------------------------- Đặng Thanh Thủy Điều khiển quá trình phản ứng 13 Hình II-3 Sự biến đổi của hạt tinh bột ngô trong quá trình hồ hoá Protein của ngô chủ yếu là zein - nằm trong phần nội nhũ.
Người ta thấy rằng có đến 14- 17 polypeptids khác nhau của protein ngô. Sản lượng ngô trên thế giới là 600 triệu tấn hàng năm. Trong đó gần 10% được dùng cho sản xuất tinh bột và các đường _dẫn xuất tinh bột, chiếm hàng đầu so với các loại ngũ cốc khác. Dùng cho s?n xu?t tinh b?t M?c đích khác 97.