Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan tài sản Chương 3: Thực trạng chính sách tài sản ở Việt Nam Chương 4: Phân tích và đề xuất mô hình thuế tài sản ở Việt Nam Chương 5: huyến nghị ứng dụng mô hình thuế tài sản vào việc xây dựng các chính sách thuế ở Việt Nam chƣơng 1 Thực ra, ở Việt Nam đã có chính sách thu ngân sách đối với tài sản như đất đai từ rất lâu. Cụ thể như thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi giao đất hoặc cho thuê đất. Trong quá trình sử dụng đất có thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất (nay đã chuyển thành thuế sử dụng đất phi nông nghiệp), khi chuyển nhượng đất có thuế chuyển quyền sử dụng đất (nay đã chuyển thành thuế thu nhập). Trong thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản có lệ phí trước bạ, khi được giải quyết một số công việc liên quan đến địa chính phải nộp lệ phí địa chính.
Đó là tám khoản thu đối với tài sản được quy định bởi bốn luật thuế. Việc xây dựng mô hình Thuế tài sản sẽ gộp các khoản thu trên vào một hệ thống thuế tài sản và mở rộng thêm cơ sở tính thuế cho phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội hiện nay là vấn đề được Chính Phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm. Cùng với thành tựu trên 25 năm đổi mới của đất nước, thu nhập và đời sống của người dân ngày càng tăng lên nhanh chóng. Việc xây dựng nhà cửa khang trang, mua sắm tài sản có giá trị lớn đang phát triển mạnh từ thành thị đến nông thôn cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thành phần kinh tế tư nhân.
Theo đó, chênh lệch giàu nghèo trong xã hội cũng ngày càng gia tăng. Do vậy, cần có một mô hình thuế tài sản phù hợp tình hình mới, vừa khai thác thêm nguồn thu cho NSNN vừa đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội. 8 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ THUẾ TÀI SẢN 2.1 Thuế tài sản là tên gọi chung của các sắc thuế đánh vào quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản. Sắc thuế tài sản phổ biến nhất là thuế bất động sản, ở một số quốc gia, chính quyền tách bất động sản thành nhà ở và đất ở và tương ứng là hai sắc thuế riêng.
Thời phong kiến Việt Nam, thuế điền thổ, còn gọi là thuế ruộng đất là một loại thuế tài sản phổ biến. Có một sắc thuế tài sản được thu khi phát sinh sự thay đổi quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản, như thuế trước bạ, thuế thừa kế. Thuế tài sản là tên gọi để chỉ sắc thuế lấy tài sản làm đối tượng đánh thuế. Đây là một trong ba cách phân loại theo nội dung của hệ thống thuế gồm: thuế đánh vào thu nhập, thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập) và thuế đánh vào tài sản (thu nhập là được tích luỹ và vật chất hoá dưới dạng tài sản).
Việc phân biệt rõ đối tượng đánh thuế tài sản, đối tượng đánh thuế thu nhập và thuế tiêu dùng có ý nghĩa quan trọng để có căn cứ xác định chính xác thời điểm cũng như cơ sở đánh thuế, tránh được sự trùng lắp, chồng chéo về nội dung động viên thu nhập của đối tượng chịu thuế [14]. Thuế tài sản là loại thuế ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại với hình thức đầu tiên là thuế đất được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các xã hội cổ đại, vì lúc đó đất đai hầu như là tài sản duy nhất thật sự có giá trị và nhà nước có điều kiện thuận lợi để nắm chắc, quản lý và đánh thuế. Khi nền kinh tế-xã hội của các quốc gia ngày càng phát triển, trên thế giới dần dần xuất hiện nhiều loại của cải khác thuộc đối tượng đánh thuế tài sản. Thông thường, việc đánh thuế vào tài sản không tính đến nguồn gốc thu nhập tạo ra tài sản có từ đâu, lúc nào… mà chỉ quan tâm đến trị giá tài sản của chủ thể có quyền sở hữu (hoặc quyền sử dụng) vào thời điểm nhất định.
Thuế tài sản được điều chỉnh theo quyền sở hữu, quyền sử dụng, khai thác hay chuyển nhượng tài sản tại thời điểm nhất định, theo quy định của pháp luật, với nhiều hình thức tên gọi khác nhau, chủ yếu là: thuế đăng ký tài sản (thuế trước bạ, lệ phí trước bạ); thuế thừa kế; thuế quà biếu; thuế nhà đất; thuế tài sản (đánh tổng hợp trên toàn bộ giá trị bất động sản, động sản và tài sản tài chính của một chủ thể); thuế chuyển nhượng tài sản (nhà, đất, vốn, trái phiếu…); thuế khai thác tài nguyên quốc gia. Thuế tài sản được đánh giá là loại thuế trực thu có thể động viên tương đối sát với 9 khả năng đóng góp thực tế của người chịu thuế vì thuế đánh vào những tài sản cụ thể, nhất là nhà và đất, là những vật thực có, dễ nhận biết hơn các đối tượng đánh thuế thu nhập hay tiêu dùng. Thuế tài sản được thể hiện dưới nhiều hình thức với tên gọi khác nhau như thuế mua tài sản, thuế nhà, thuế đất, thuế đăng ký tài sản, thuế chuyển nhượng tài sản… với những đặc điểm như sau: Thuế tài sản là loại thuế dựa trên quan điểm đánh thuế theo lợi ích, những người được hưởng lợi ích nhiều thì phải nộp thuế nhiều hơn. Điều này xuất phát từ thực tế là nhiều loại tài sản được bảo tồn, phát triển và sinh lợi là do được thừa hưởng rất nhiều từ các dịch vụ công cộng của nhà nước.
Thuế tài sản mang tính chất là loại thuế h trợ cho thuế đánh trên thu nhập. Thu nhập từ tài sản thường khó xác định được nếu chủ sở hữu cố tình che dấu, trong khi tài sản dù là động sản hay bất động sản khó mà che dấu được. Thuế đánh vào tài sản cho phép khai thác hết khả năng của người nộp thuế. Điều này, còn góp phần thúc đẩy hoạt động kinh tế vì nó khuyến khích chủ sở hữu tài sản sử dụng tài sản có hiệu quả nhất.
Thuế tài sản chỉ ảnh hưởng đến một phần thiểu số dân cư thuộc diện giàu có nên dễ nhận được sự ủng hộ của đại đa số người dân. Thuế tài sản là một trong những biện pháp can thiệp của nhà nước trong việc giải quyết sự không công bằng về phân phố giữa các tầng lớp dân cư. Thuế tài sản là sắc thuế có thể phục vụ yêu cầu điều chỉnh mối quan hệ hợp lý giữa tiêu dùng, đầu tư và tiết kiệm của các chủ thể trong nền kinh tế. Do việc đánh thuế tài sản sẽ làm hạn chế ý thích tiết kiệm, tích lũy bằng tài sản và khuyến khích tăng tiêu dùng hoặc đầu tư sản xuất, kinh doanh nên có thể sử dụng thuế tài sản làm công cụ kích cầu, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Thuế tài sản, đặc biệt là loại thuế đăng ký, thường dễ thu vì loại thuế này được xây dựng phù hợp với tâm lý của người có tài sản, muốn được xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp và bảo hộ đối với một số tài sản có giá trị.2 Việc đánh thuế tài sản không đơn giản chỉ nhằm mục đích tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà xuất phát từ nhiều lý do xét trên nhiều khía cạnh kinh tế, xã hội.
Thuế tài sản có vai trò quan trọng trong nền kinh tế cũng như hệ thống ngân sách nhà nước, cụ thể: 10 t, Thuế tài sản là nguồn thu rất quan trọng cho ngân sách Nhà Nước: thường chiếm một tỷ trọng rất cao trong tổng thu ngân sách của nhiều Quốc gia và cũng chính là loại thuế dễ quản lý thu. Những bất động sản, nhà cửa không thể di dời che dấu được. Máy bay, ô tô, tàu thuyền… thì không thể không đăng ký lưu thông. Nhìn chung ở các Quốc gia áp dụng thuế tài sản thì nguồn thu rất cao cho ngân sách Nhà Nước.
Ví dụ như ở Canada, Mỹ, Úc, Ireland, Newzeland thuế tài sản chiếm trên 85% trong tổng thu ngân sách [4] Thứ hai, Thuế tài sản góp phần đảm bảo công bằng xã hội: những người sở hữu một lượng tài sản có giá trị lớn, những tài sản có khả năng tạo ra thu nhập nhiều hơn, ngoài những tài sản phục vụ cho đời sống sinh hoạt cá nhân họ còn có các tài sản tích trữ, đầu tư sinh lợi thì những chủ thể này phải có một nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách Nhà nước và cuối cùng thì ngân sách này thực hiện chức năng phân phối và phân phối lại. Bất kỳ một xã hội nào càng phát triển thì càng có sự phân cực giữa hai tầng lớp người giàu và người nghèo. Vì vậy, đứng ở góc độ quản lý Nhà nước đảm bảo một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh thì chính sách thuế tài sản là một công cụ thực hiện mục tiêu này. Bên cạnh đó, thuế tài sản còn có vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa các thế hệ, tăng cường đoàn kết nội bộ, giảm đi sự chênh lệch quá đáng về thu nhập trong các tầng lớp xã hội Thứ ba, thuế tài sản còn được coi là công cụ hữu hiệu của Chính phủ nhằm thực hiện việc quản lý, kiểm kê, kiểm soát đối với các loại tài sản có giá trị.
Thông qua đó thấy được sự chênh lệch giàu nghèo, mức sống của các tầng lớp dân cư, tiềm năng nguồn lực xã hội. Từ đó Chính phủ có những quyết sách hợp lý cho việc phát triển kinh tế xã hội trong mỗi thời kỳ nhất định. Như vậy, xét trên khía cạnh việc đánh thuế tài sản là cần thiết vì nó khắc phục các khiếm khuyết của thuế thu nhập cá nhân, đặc biệt là đối với những nước mà mức độ thu nhập cá nhân có diện đánh thuế hạn hẹp và bị hạn chế do năng lực thực hiện. Cùng với các loại thuế khác, thuế tài sản cho phép thực hiện được các mục tiêu, yêu cầu đề ra về tài chính, kinh tế, xã hội.
đồng thời phát huy tác dụng hỗ trợ có hiệu quả cho thuế đánh vào thu nhập và tiêu dùng trong hệ thống thuế. Tuy nhiên trong một hệ thống thuế gồm nhiều loại thuế thu nhập có diện đánh thuế mở rộng thì hình thức thuế tài sản đánh vào những tài sản do thu nhập tạo ra đã chịu thuế thu nhập có thể dẫn đến tình trạng đánh thuế trùng vào khoản tiết kiệm và vì vậy sẽ không mang lại hiệu quả 11 kích thích các đối tượng tạo ra thu nhập trong xã hội.