Chương 1 GIỚI THIỆU VE KINH TE HỌC: 'GUYÊN NƯỚC 1.1 Téng quan “Thể kỷ trước đã chứng kiến một sự tăng trưởng chưa từng thấy trong các dự án tưới tiên mức độ toàn edu, Việc sử dụng những giếng nước tiên tién đã làm giảm chỉ ph của sử dung nước ngằm, và những khoản tải trợ giành cho các hỗ chứa và hệ thing kênh dẫn lớn đã được sử dụng để dat được an ninh lương thực. Khắp nơi tiên toàn thé giới, đất nông nghiệp cỏ tưới đã tăng từ 50 triệu ha vào năm 1900 lên tới 267 triệu ha vào những năm gần diy, phần lớn nằm trong các quốc gia dang phát triển (Gleick, 2000). Hiện nay gần 75% toàn bộ đất đai nông nghiệp có tưới nằm ở các quốc gia dang phát triển. Tưới đã làm tăng một khối lượng lớn đất dai canh tác cho sản xuất nông nghiệp.
Tưới cũng kim tăng gấp đôi khéi lượng mùa màng, và đã lầm giảm tính bắt định của việc chỉ dựa vào nguồn cung cắp nước mua. Bảng 1 cho thấy sự tăng trưởng diện tích dit có tưới của toàn bộ thé giới trong những thập ky gin đây. Các vùng miễn xác định như Châu A đã được hưởng lợi nhiều từ tưới. Các quốc gia với những vùng điện tích rộng lớn là Trung quốc, An độ và Hoa kj, chiếm tới một nữa khối lượng diện tích có tưới của toàn thé giới.
Các vùng nh thổ khác như Châu Phi cổ t đất đã có tưới hơn, Toàn cảnh cho thấy một sự gia tăng lớn trong đắt dai có tưới, ting gần gp đôi trong một khoảng thời giam 30 năm. Hơn nữa, Bang 1 cho thấy tỷ lệ phần trăm diện tích trồng trọt được tưới. Ty lệ phin tram này thay đổi lớn giữa các vùng lãnh thổ, Vi dụ, năm 1995 Châu A đã có 32,4% tổng số đất trồng có tưới, trong khi ở Châu Phi chỉ có 6,1% diện tích trồng trọt cổ tưới. Căng vậy, một số quốc gia, như Hoa kỳ và Trung quốc, có tỷ lệ đắt trồng có tưới còn tương đối cổ định tong khoảng thời gian giữa năm 1965 và 1995, trong khi ở An độ ý lệ phần trăm này hầu như đã ting lên gp đôi.
6 Việt nam, tinh hình cũng tương tự. Hau như các dự án phát triển tưới đã thực hiện khắp nơi để đáp ứng cho sản xuất nông nghiệp bảo đảm an ninh lương. thực cho đất nước. Từ một quốc gia luôn phải nhập khẩu lương thực, Việt nam đã trở thành một quốc gia xuắt khẩu lương thực lớn trên th giới, với sả lượng xuất khẩu tăng lên không ngừng từ 1, 2, 3 triệu tới 7 triệu tấn gạo trong năm 2010 này.
Điều đó cho thấy, chúng ta đã trải qua giai đoạn phát tr in theo chi rộng của ngành tưới, và chúng ta đang đứng trước bài toán mới của giai đoạn phân bổ nước. cho các vùng miễn cũng như cách ngành khác nhau, cải thiện hiệu quả sit cdụng nước cho nền kinh tế Bảng 1ˆ Tổng đệntiehcổ tưới [ngiinha]vàtjlộphầnrềm dưới tich canh tác cổ tưới mm mỹ m E> tàng 1 sao mạn 12368 ¬ ie soe sóc sie cau 213% 252% 29%. ae nue tực vn soe ike ‘Be va Trung Mỹ 16% 83% 100% Teg sơn sản soe ed NanMg Soe sạc vor tác cou oe sứ tie ae out ga nam sp Tang ốc Min ae fom TS pie oat ie se Tole ones toe ng hae. "gền TAOSDAE Bảng.
Tổngdiệnchtướidm năng (nein ha) Din th em năng Ty lệ thực tếà êm năng CRuÂu is xạ chau 6 ans Nam Mỹ mạn too “Tai nguyên nước không được phân phổi đồng đều trên phạm vi toàn cầu. và sắc vũng khô hạn sẽ tiếp tục có những mẫu thuẫn vỀ cung cấp nước. Thêm nữa, tăng trưởng dân số trong các quốc gia đang phát triển được dự kiến sẽ làm tăng tổng. sầu đối với lương thực ở thé ky tới.
Những người dân ở các quốc gia dang phát tiển ngày nay tiêu thụ nhiều sản phẩm thịt hơn, và hậu quả là làm tăng cầu đối với các mùa vụ ngũ cốc cho chăn muối. Các ức lượng của IFPRI cho thấy để đấp ứng cí vào năm 2020, sản lượng ngữ cốc thể giới sẽ phải tăng lên 40% so với mức của năm 10 1995. Việc quản lý tốt hon các hệ thống nước hiện có, cùng với sử dung các công nghệ tưới hiệu quả hơn sẽ thực sự có ÿ nghĩa trong những thập ky sắp tối 1.2 Các khía cạnh đa-cẤp của quản lý nước Hiệu quả sử dụng nước bị tác động bởi các quyết định tai các cắp quản lý khác nhau. Sơ đỗ 1 minh họa một số lựa chọn được thực hiện tại mỗi cắp quản lý, và các cắp khác nhau này được liên hệ qua lại như thể nào? ‘dus i nước mặt ruộng Các lựa chon: © Phinbé đất Bao nhiều mẫu cho mỗi vụ? © Tưới,_ Các mùavcócăntưới không? hay © iu tưới ăn phải được sử dụng [truyền thống hay hiệ da)? Chuyếntải nước trong vùng lãnh thổ ce ya chon: ‘© Nước cin duge phân bé nhu thé nào giữa ác khu vực? © Căn đầu tư bào nhiều cho duy tu công tình chuyển ải nước? ®_ Nước căn được dịnhgiánhư thế nào cho những người sử dụng, Khác nhau? “Thiết kế hệ thống, Các lựa chọn Tiga nade ngềm và nước mặt được sử dụng là bao nhiều (trong hệ thông sử đụng chung)? © Cầu đầu tw bao nhiều vào một dự ân nước? © Công suấtcủa dự én nước mới cần là bạo nhiều? S01.
Các mức quản lý hệ thống nước đacấp 1.1 Các lựa chọn quản lý nước cấp-vi mô “Cuối cùng, hiệu quả của các hệ thống tưới được xác định bởi các lựa chon ef mặt ruộng. Các lựa chọn này là lựa chọn phân bổ đất cho các mia vụ, lựa chọn phạm vi trong đó những mùa vụ nảy được tưới, lựa chọn sử dụng các đầu vào khác ngoài nước, và lựa chọn kiểu công nghệ tưới. Những lựa chọn này là phụ thuộc lẫn nhau, và mô hình hóa một cách diy đủ những lựa chọn này dường như là rit phúc. Do vậy, ở đây chúng ta chỉ thảo luận về phân bổ đất đai trong số các hoạt động 6; đầu tiên chúng ta 48 cập tới lựa chọn giữa nông nghiệp chỉ dựa vào nước mưa và nông nghiệp có tưới, và sau đó chuyển sang lựa chọn một hệ thống tưới cụ thể, 1.1 Phân bổ đắt cho tưới tại mức mặt rưông Con tải liệu nghị cứu tham khảo về việc chi ip nhận công nghệ hữu ich trong phân ich lựa chon diện tích đất dai trồng trot có tưới (Feder, Just và Zilberman, 1985).
Những tai liệu này, phan lớn, giả thiết những người nông dân là những người không thích hi ro và bị ring buộc bởi khả năng tín dụng. Dựa vào các bằng chứng truyền thông, đa số các công trình nghiên cứu hiện có giả thiết việc. chip nhận tưới làm giảm rủ ro và làm ting năng suắt nhưng cần có thêm đầu tư Mô hình sau đây về lựa chọn của người nông dân vẻ việc sử dụng nông nghiệp chỉ dựa vào nước mưa hay có tưới được xây đựng bai Feder và các cộng sự của ông (1985), Việc đưa ring buộc tin dụng vào mô hình là đặc biệt thích hợp cho những người nông dân trong các quốc gia đang phát triển Việc cung cấp các động cơ khuyến khích đúng din cho những người nông din để chấp nhận tưới biệu quà có thể có những tác động lớn lên sử dụng nước. Việc chuyển đổi từ tưới lung hoặc tưới phun sang các hệ thống tưới nhỏ giot làm giảm sử dụng nước lên tối 35% (Schoengold, Sunding và Moreno, 2005).
Việc sử dung tưới nhỏ giọt toàn cầu đã tăng lên 28 Lin so với mức của những năm giữa 1970, nhưng vẫn it hơn 1% diện tích tưới toàn cầu, trong khi tưới phun được sử dụng trong 6% điện tích có tưới (Postel, 1996). Cải thiện trong hiệu quả sử dụng nước. không bị hạn chế vào nông nạ. và những người sử dụng nước công nghiệp và nước sinh hoạt cũng có thélàm nhiều diều để ei hiện hiệu qu sử dụng nước của họ Vain ene na ne này hôm my tne nười nông dine ĐỀ sit giảm cầu sử dung nước của họ tới 10 đến 50%, các ngành công nghiệp có thể cất giảm tới 40-90 „ và các thành phố có thé cắt giảm tới một phần ba mà không phải hy sinh sản lượng kánh tế hoặc chit lượng sé 1g (Postel, 1996).2 Năng suất của nước Một nhân tổ quan trong trong việc xác định phản ứng của người nông dân với thay đổi trong giá nước là dạng hàm số liên hệ sản lượng sản xuất với đầu vào nước, ‘Theo Caswell và Zilberman (1985) chúng ta xác định sản lượng trên một mẫu (Y') như một him số của khối lượng nước hiệu quả (c), trong đồ nước hiệu quả là lượng nước được cây trồng sử dụng.
Điều này tương đương với tích của tham số hiệu quả sử dụng nước và khối lượng nước được ding. Vin đề này sẽ được để cập chỉ tết hơn trong Chương 2 và 3 của luận văn.3 Cúc công nghệ tưới hiệu quả sử dụng í-vỗn Các công nghệ trới higu quả không nhất thiết đòi hỏi chỉ phí vin cao dé chấp nhận. Có những vi dụ từ các vùng khan hiểm-nước cho thấy sự khéo léo của những. người nông dân trong khả năng chấp nhận cung cấp nước hạn chế.
Một vi dụ là việc làm phẳng đắt mộng. Dinh luồng dip (terracing) đất ruộng đã được sử dung hing ngần đời nay như một cách thức gia tăng hiệu quả dùng nước. BE mặt đắt phẳng phiu làm cho ít hắt thoát nước, và làm tăng hiệu quả sử dụng nước của cây ting Một phương pháp khác đã được sử dụng là đặt một cái chậu dat sét trên mặt đất gần. rễ của cây trồng.
Bit sét xốp cho phép nước nhỏ giot một cách chim chap từ châu, và cung cắp lượng nước cổ định cho cây. Một ví dụ khác về công nghệ tưới chỉ thấp là sử dụng các bẻ chứa nước cắp-làng xóm ở Ấn độ. Một cách truyền thống, các làng xóm ở Ấn độ thu thập nước mưa vào các bể chứa và mỗi làng có một hệ thống quy dich nước được phân chia như thé nào giữa những người sử dung, và ai chịu trách nhiệm vận hành hệ thống (Whitaker, Kerr và Shenoi (1997). Cũng có những hệ thống tưới nhỏ giọt chỉ phí-thấp được phát triển và sử dụng trong nhiều vùng ở An độ, Hệ thống này sử dụng các hỗ đơn gin chữa nước thải và một bộ lọc bằng vải.
Cho dù chỉ yêu clu một lượng đầu tư vốn thấp hơn nhiều so với đa số các hệ 1g tưới nhỏ giọt, nó vẫn hiệu quả một cách đáng kể trong sử dụng nude (FAO, 1999). Sử dụng tưới nhỏ git bằng xô chậu.