Phần mở đầu nêu lý do chọn để tài, mục đích nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Phần nội dung của luận văn gồm ba chương: - Chuong 1: Téng quan vé quy hoạch — kiến trúc nhà ở nông thôn vùng trung du miễn núi phía Bắc Việt Nam, trong đó có các vấn đề về quy hoạch điểm dân cư nông thôn, thị xã, thị trấn và hiện trạng kiến trúc nhà -_ Chương 2 : Cơ sở khoa học đề xuất mô hình kiến trúc nhà ở nông thôn cho một số tỉnh trung du miền núi phía Bắc gồm các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội; kỹ thuật, vật liệu xây dựng; những kinh nghiệm nghiên cứu trong nước và quốc tế; cơ sở chính sách, hệ thống văn bản pháp lý. -_ Chương 3 : Mô hình kiến trúc nhà ở nông thôn một số tỉnh trung du miền núi phía Bắc, đưa ra mô hình kiến trúc nhà ở cho từng khu vực. Phần kết luận và kiến nghị; B.
NOI DUNG Chuong 1. TONG QUAN VE QUY HOACH - KIEN TRUC NHA O NONG THON VUNG TRUNG DU MIEN NUI PHIA BAC.1 Về công tác quy hoạch 1.1 Quy hoạch điểm dân cư nông thôn. Công tác lập quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới. Ngày 16/4, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 491/QĐ-TTg, ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
Sau 03 năm thực hiện Chương trình trên địa bàn tại các tỉnh khu vực trung du miền núi phía Bắc, bộ mặt nông thôn bước đầu có những thay đổi theo xu hướng tích cực. Theo số liệu từ các địa phương: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên Bái, Tuyên Quang và Lạng Sơn, tính đến hết năm 2012, số xã trên khu vực các tỉnh trung du miền núi phía Bắc đã hoàn thành việc phê duyệt quy hoạch xã nông thôn mới dat tỷ lệ khoảng 54,0% so với tổng số xã. Trong đó các tỉnh cơ ban đã hoàn thành (trên 80%) quy hoạch xã nông thôn mới gồm: Yên Bái, Lào Cai, Lạng Sơn, Lai Châu. Và các tỉnh có tỷ lệ hoàn thành quy hoạch thấp gồm: Cao Bằng, Bắc Kạn, Điện Biên, Sơn La.
nhiều xã trong các tỉnh này đang trong quá trình thâm định, phê duyệt quy hoạch.[1] Mặc dù vậy trong công tác triển khai lập quy hoạch xã nông thôn mới còn nhiều tồn tại đáng lo ngại. Công tác tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt các đồ án còn lúng túng, chưa đáp ứng được yêu cầu và mục tiêu đề ra. Chất lượng một số đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại một số địa phương. chưa bám sát yêu cầu và tình hình phát triển kinh tế xã hội.
Nhiều địa phương. triển khai chậm, số xã được phê duyệt quy hoạch đạt tỉ lệ thấp. Những tổn tại nêu trên do nhiều nguyên nhân. Về hệ thống văn bản pháp luật và cơ chế chính sách chưa phù hợp, thích hợp với từng khu vực, vùng miễn.
Ở địa phương còn thiếu cán bộ chuyên môn, công tác tuyên truyền chưa rộng rãi để người dân biết đến và tìm hiểu. Công tác tư vấn xây dựng nông thôn mới còn thiếu và chưa có kinh nghiệm trong việc xây dựng quy hoạch nông thôn. Kinh phí lập quy hoạch còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn theo vùng. Công tác quản lý quy hoạch xã nông thôn mới Cho đến nay các xã vùng trung du miền núi phía Bắc đã có quy hoạch xây dựng được duyệt nhưng chưa triển khai, do thiếu kinh phí đầu tư.
Kinh tế, xã hội khu vực nông thôn nhiều nơi chưa phát triển, quy hoạch xây dựng nông thôn chưa được xã hội nhìn nhận đúng mức, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý quy hoạch xây dựng ở khu vực nông thôn còn rất thiếu cả về lượng và chất và cuối cùng, là chất lượng đồ án quy hoạch xây dựng chưa mang tính khả thi cao.2 Quy hoạch thị xã, thi tran a. Công tác lập quy hoạch thị xã, thị n. Hiện nay công tác lập quy hoạch thị xã, thị trấn ở các tỉnh trung du miền núi phía Bắc còn nhiều bất cập, việc thực hiện lập quy hoạch chưa sát với thực tế, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan lập quy hoạch với Ủy ban nhân dân của mỗi khu vực. Tình trạng lập quy hoạch thiếu tính khoa học còn diễn ra ở nhiều nơi, nhà ở xây dựng tràn lan, thiếu sự quản lý.
Bộ mặt đô thị ngày càng xuống cấp, tính truyền thống ít được quan tâm, bản sắc khu vực bị lu mờ. Công tác quản lý quy hoạch thị xã, thị trấn. Thực hiện Luật Quy hoạch đô thị, công tác quản lý quy hoạch xây dựng được phân cấp mạnh cho các huyện, thị xã tạo điều kiện chủ động trong việc quản lý và phát triển đô thị. Tuy nhiên do năng lực chuyên môn của cán bộ địa phương còn nhiều hạn chế nên việc thực hiện có nhiều sai xót.
Cụ thể như việc cấp chứng chỉ quy hoạch, giấy phép xây dựng một số công trình mang tính hình thức, không theo quy hoạch được duyệt. Tình trạng quy hoạch, xây dựng không đồng bộ gây ảnh hưởng đến cảnh quan đô thi. Nhằm tăng cường công tác quản lý quy hoạch xây dựng trên địa bàn thị xã, thị trấn các tỉnh trung du miền núi phía Bắc, các địa phương cần phải có sự thống nhất bằng văn bản của Sở Xây dựng trước khi thực hiện các đồ án quy hoạch hoặc cấp giấy phép xây dựng. Tăng cường công tác kiểm tra thực địa việc xây dựng theo giấy phép được cấp của Ủy ban nhân dân.2 Kiến trúc nhà ở 1.1 Kiến trúc nhà ở trong làng xóm, cụm điểm dân cư nông thôn.
Kiến trúc nhà ở làng xóm, cụm điểm dân cư nông thôn vùng núi. Ving nti phía Bắc bao gồm Tây Bắc Bộ (gồm các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình) và Đông Bắc Bộ (Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, c Cạn, Quảng Ninh, Yên Bái) là khu vực có địa hình núi cao, hiểm trở và dốc nhất Việt Nam. Đây là khu vực có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống như Thái, Mường, Kinh, Mông, Tày, Giao, Nùng, Sán Chay, Sán Dìu. Do đó kho tàng văn hóa, lối sống, phong tục tập quán vô cùng phong phú, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.1: Phiên chợ vàng cao.[30] Làng bản vùng núi phía Bắc có những sắc thái riêng mang đậm dấu ấn của điều kiện tự nhiên, điều lên kinh tế xã p tục và tín ngưỡng.
Truyền thống định canh, định cư và xây dựng nhà ở có những đặc điểm sau. - Dinh cu theo tập quán cày trên đất khô, lên hình là người Mông, đơn vị cư trú là “Giào”, khu vực này thường làm nhà trệt đặt liền kể nhau để ở. “Tường rào quanh nhà thấp, xếp bằng đá. Vườn tược bé, thậm chí là không có.
~_ Định cư theo tập quán làm nương rẫy. Đơn vị cư trú là bản, được lập ở lưng chừng núi. Nhà ở có ba loại: nhà sàn, nhà trệt và nhà nửa sàn nửa trệt. ~_ Định cư theo tập quán làm ruộng bậc thang: dân cư tập trung ở khu vực này thường làm ruộng nước kết hợp với nương rẫy, đánh bắt.
Nhà ở là nhà sàn và nhà trệt.2: Ban lang va rung bac thang 6 Lao Cai.[30] Do có những đặc thù riêng nên khuôn viên ngôi nhà thường rất đa dạng, phong phú cả về hình dáng lẫn diện tích, không có căn cứ rõ ràng để xác định được ranh giới. Thông thường chỉ xác định nằm bên trong hàng rào, hoặc giới hạn đến ao cá hoặc vườn tược, hoặc một hàng cây. Nguồn tài nguyên đất đai là rất lớn nên quy mô diện tích cũng rất lớn, từ 200m” - 400m” thậm chí lớn hơn. Trong khuôn viên một ngôi nhà thông thường gồm có: hàng rào, lối vào gồm cổng và ngõ, sân, vườn, chuồng trại, ao cá, nhà chính và nhà phụ.
ĐBAEHIĐE woken TC THỜ, ratyly drainer medyerlinasing TUNG(OMAmEOL houỚG Cua - mednorfre No ẻx .xẽ MAT BANG TONG THE Hinh 1.3: Mat bang tong thé nha san ở Tuyên Quang. - Hàng rào: làm bằng tre, nứa đan buộc vào với nhau một cách đơn giản, có những hàng rào xếp đá vững chắc. Ngoài tác dụng đảm bảo an toàn cho ngôi nhà còn có tác dụng phân chia ranh giới giữa các nhà và với đường sá. Ngày nay nhiều nơi hàng rào đã được xây gạch, bê tông hoá đường làng.4: Hàng rào tre và gạch.
- Lối vào: thường được bồ trí ở phía trước hoặc bên cạnh ngôi nhà, giáp với đường. Tùy theo có nhà có cổng, có nhà không.5: Công vào - Sân phơi: tuỳ theo địa hình bằng phẳng mà sân trong khuôn viên nhà ở rộng hay hẹp. Sân dùng để hong phơi thóc lúa, hoa màu. Sân trong nhà ở cỗ truyền thường nện đất, hiện nay một số nhà có điều kiện thì đã láng xi măng.
Đối với nhà sàn sân phơi thường được thay thế bằng hiên phơi trên sàn.6: Sàn phơi tro ng nhà sàn. 10 - Nhà chính: thường được bố trí ở giữa khuôn viên, trên vị trí bằng phẳng, chắc chắn. Đối với loại hình nhà đất thì có thêm nhà phụ nằm gần nhà chính, dùng làm bếp, kho, khu vệ nh, chăn thả gia súc, gia cầm.7: Nhà chính và nhà phụ trong khuôn viên nhà ở: [29] - Khu chăn nuôi: chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm trước đây được bố trí ở ngay tầng trệt của ngôi nhà sàn, hiện nay nhiều nơi khu chăn nuôi đưa ra xa tách biệt với ngôi nhà chính, xây dựng chuồng trại sạch sẽ.8: Chuông trại - Vườn: hầu hết các hộ gia đình đều có một khu vườn, trồng rau hoặc cây ăn quả. Vị trí của khu vườn có thể nằm ở phía trước hoặc phía sau, cũng có khi nằm ở bên cạnh nhà chính.
" Điều đặc biệt nhiều khuôn viên nhà ở làm riêng nhà kho chứa lương thực với hình thức kiến trúc độc đáo tạo nên tổ hợp kiến trúc sinh động trong khuôn viên nhà ở.9: Nhà kho chứa lương thực We. * Kiến trúc nhà ở làng xóm, cụm điểm dân cư nông thôn vùng núi kiểu truyền thống. Nhà ở của mỗi dân tộc có những nét đặc thù riêng nhưng nhìn chung có ba loại kiến trúc nhà ở phổ biến là: nhà sàn, nhà trệt và nhà nửa sàn nửa trệt. ~ Nhà san: Hình 1.10: Bản làng và nhà sàn ở Yên Bái.
12 Nhà sàn là loại nhà cỗ xưa và phổ biến hơn cả. Nhà sàn làm bằng gỗ có loại đơn sơ và loại kiên cố. Loại đơn sơ có cột chôn thẳng xuống đất, mái tranh, vách nứa. Loại kiên cố thường có cột kê trên tảng đá, vách thường dùng.