CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về nước rỉ rác 1. Sự hình thành nước rỉ rác Nước rỉ rác được hình thành trong bãi chôn lấp từ nhiều nguồn khác nhau như: Từ độ ẩm của rác, từ quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ trong rác, nước mưa, nước ngầm thấm ngấm và nước từ các vật liệu bổ sung (chế phẩm sinh học, phun tưới tạo ẩm). Bãi chôn lấp là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất để xử lý chất thải rắn trên toàn thế giới vì một số ưu điểm như dễ dàng thiết lập và chi phí thấp so với các phương pháp xử lý khác [1].
Sơ đồ mô tả thành phần bãi chôn lấp [2] Thành phần nước rỉ rác phụ thuộc vào các quá trình sinh hóa bên trong bãi chôn lấp. Sự đa dạng của hệ vi sinh vật phân hủy phụ thuộc vào đặc tính của rác tạo thành thức ăn, các yếu tố môi trường bên trong bãi rác, nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, tuổi của bãi rác, v. Sự biến đổi theo mùa cũng ảnh hưởng đến thành phần của nước rỉ rác. Nước rỉ bãi rác chứa hơn 90 hợp chất hữu cơ hữu cơ và kim loại và 50 các nguyên tố vô cơ, bao gồm các hợp chất béo halogen, benzen, benzen alkyl hóa, phenol, phenol được alkyl hóa, etoxylat, hợp chất thơm đa vòng, este phthalic, benzen clo hóa, phenol clo hóa, biphenyl polyclo hóa (PCB), clo hóa dioxin và furan clo hóa, chất chống cháy brom hóa, thuốc trừ sâu, thiếc hữu cơ, metyl thủy ngân và kim loại nặng [3].
Trong số dư lượng dược phẩm, naproxene và ibuprofen có mặt ở nồng độ cao đối lập với với các sản phẩm tiêu thụ cao khác như paracetamol không được phát hiện nhiều [4]. Xuất hiện các hợp chất rối loạn nội tiết (EDC) được ghi nhận rộng rãi. EDC bao gồm estrogen, phytoestrogen và các thành phần của sản phẩm chăm sóc cá nhân được sử dụng rộng rãi [5]. Sự có mặt của muối cũng được phát hiện và có thể ảnh hưởng đến quá trình phân hủy sinh học.
Dù số lượng hợp chất có mặt trong nước rỉ rác rất nhiều tuy nhiên, việc loại bỏ chất ô nhiễm chủ yếu được thể hiện rõ nhất qua cơ chế loại bỏ Nitơ ammoniac. Do sự biến đổi của các dạng liên kết nitơ hữu cơ (như axit amin và protein) làm giải phóng một lượng lớn ammoniac. Đặc điểm của các bãi chôn lấp Các bãi chôn lấp mới chứa một lượng lớn các chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học và có độ ẩm lớn, đây là môi trường lý tưởng cho quá trình lên men kỵ khí diễn ra nhanh và tạo thành các axit béo dễ bay hơi (VFAs) [6], quá trình này gọi là quá trình lên men axit. Nước rỉ rác được tạo ra trong thời gian này chủ yếu chứa các chất dễ phân hủy sinh học, các hợp chất này có trọng lượng phân tử thấp có thể bị phân hủy nhanh hơn như ptotein, cacbohydrat và lipid [7].
Các bãi chôn lấp cũ chứa các vi sinh vật phát triển chuyển đổi VFAs thành khí sinh học. Lúc này hàm lượng hữu cơ trong nước rỉ rác giảm dần, chuyển từ trạng thái dễ phân hủy sinh học sang trạng thái khó phân hủy sinh học (chủ yếu là các hợp chất như axit humic và axit fulvic). Đánh giá một số giai đoạn phân hủy sinh học trong các bãi chôn lấp có thể trình bày qua 03 giai đoạn. Ba giai đoạn được thể hiện trong bảng sau: Bảng 1.
Ba giai đoạn diễn ra trong bãi rác [8] Trung bình Trẻ (recent) Già (old) (intermediate) Tuổi (năm) <5 5 - 10 >10 pH 6,5 6,5 – 7,5 >7,5 COD >10.000 BOD5/COD >0,3 0,1 – 0,3 <0,1 5 – 30% VFA + 80% axit dễ Axit humic và Hợp chất hữu cơ axit humic và axit bay hơi (VFA) axit fulvic fulvic Trung bình Kim loại nặng Thấp thấp Khả năng phân Quan trọng Trung bình Thấp hủy sinh học Trong khi bãi chôn lấp trẻ (<5 tuổi) có tải lượng hữu cơ dễ phân hủy sinh học cao (COD> 10.000 mg/l, BOD5/COD > 0,3, pH = 6,5); bãi chôn lấp trung bình (từ 5-10 năm) giữ tải lượng hữu cơ dễ phân hủy sinh như COD từ 4.000 mg/l, BOD5 /COD từ 0,1-0,3, pH từ 6,5- 7,5; bãi chôn lấp già (>10 năm) giữ tải lượng hữu cơ dễ phân hủy sinh như COD<4.000 mg/l, BOD5/COD <0,1, pH > 7,5. Như vậy, theo thời gian hoạt động, các thành phần của bãi rác sẽ có xu hướng: + BOD/COD ngày càng giảm do trong nước rỉ rác cũ chứa các chất khó phân hủy sinh học như liggin, axit humic và axit fulvic + pH tăng dần + Nồng độ các chất ô nhiễm giảm dần trừ N-NH 3 tăng dần 4 1. Các phương pháp xử lý nước rỉ rác 1. Các phương pháp thông thường được sử dụng 1.
Bùn hoạt tính thông thường (CAS) Phương pháp này thường được sử dụng để xử lý nước thải sinh hoạt, rất ít khi sử dụng riêng lẻ phương pháp này cho xử lý nước rỉ rác. Nhược điểm chính của phương pháp này là khả năng lắng bùn không đủ, cần thời gian sục khí lâu hơn, nhu cầu sử dụng năng lượng cao và làm tăng lượng bùn dư thừa. Do đó, CAS thường được sử dụng kết hợp trong quá trình tiền xử lý với PAC để cải thiện hiệu suất loại bỏ chất ô nhiễm. Ngoài ra, có thể bổ sung bentonite để tăng cường khả năng lắng của CAS.
Bể phản ứng tuần tự theo mẻ (SBR) Việc áp dụng phương pháp này rất hiệu quả và có tính linh hoạt cao, khả năng loại bỏ COD lên đến 75%, loại bỏ Amoniac tới 99% [8]. SBR có thể điều chỉnh được thời gian sục khí nên rất phù hợp với loại nước rỉ rác có thành phần thay đổi. Hệ thống màng sinh học Vi sinh vật được gắn vào màng trong hệ thống xử lý cho phép loại bỏ bước lắng cần thiết để tách sinh khối khỏi nước thải đã qua xử lý, từ đó tránh được hiện tượng phồng bùn trong quá trình xử lý. Hệ thống có thể thực hiện đồng thời nitrat hóa và khử nitrat hóa do đó rất phù hợp để xử lý nước rỉ rác.
Các quá trình hóa lý Một số quá trình hóa lý được sử dụng để xử lý nước thải, quá trình này có thể được sử dụng trong bước tiền xử lý hoặc bước xử lý cuối cùng trong hệ thống xử lý. Công nghệ hóa lý được sử dụng để xử lý nước rỉ rác nhiều nhất là đông tụ, keo tụ, đuổi khí, hấp phụ các chất humic bằng than hoạt tính, hấp phụ amoni bằng zeolite, các quá trình oxi hóa nâng cao như Fenton, quang xúc tác. Có thể kết hợp keo tụ-tạo bông với lắng, lọc cát và hấp phụ bằng than hoạt tính dạng hạt (GAC) để cho hiệu quả tốt nhất. Đất ngập nước Các hệ thống đất ngập nước rất phù hợp cho quá trình xử lý nước rỉ rác, đặc biệt là xử lý các kim loại nặng có trong nước rỉ rác.
Tuy nhiên, phương pháp này cho hiệu quả thấp, thời gian xử lý lâu nên thường sẽ được sử dụng kết hợp với phương pháp khác để xử lý nước rỉ rác. Công nghệ màng Các phương pháp xử lý hiệu quả nước rỉ rác bằng công nghệ màng lọc được biết đến và là một phương pháp xử lý thay thế khả thi. Màng lọc gồm các loại: NF, RO, UF, MF là các loại chính sử dụng để xử lý nước rỉ rác. Màng NF là một phương pháp thuận tiện để loại bỏ các chất ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng.
Màng NF kết hợp với các hệ thống sinh học có thể xử lý được lượng COD thấp, thích hợp cho việc xử lý nước thải thương mại và khả năng tái sử dụng nước tại chỗ [9]. Màng RO cho hiệu quả xử lý đáng tin cậy và chi phí xử lý tiết kiệm để xử lý nước 5 rỉ rác. Khi màng RO kết hợp với hệ thống SBR trước đó sẽ cho chất lượng nước thải đầu ra tốt hơn. Màng MF và UF thường không thể sử dụng được riêng lẻ mà chủ yếu được sử dụng làm công đoạn tiền xử lý cho quá trình màng hoặc quá trình hóa học khác.
Công nghệ xử lý nước rỉ rác tại một số nước trên thế giới a. Tại Phần Lan Hầu hết các công nghệ hiện đang được áp dụng trên thế giới đều kết hợp xử lý yếm - hiếu khí. Tại bãi Ammasuo (Phần Lan) công nghệ được áp dụng là kết hợp yếm khí (UASB) - hiếu khí (Aeroten), với hàm lượng COD dòng vào từ 1.000mg/l, nitơ từ 80-260mg/l, hiệu quả xử lý đạt 80-90%; hiệu quả xử lý nitơ NH 4+ đạt 65-99%. Cũng với công nghệ này tại bãi rác Zapdnaya-(Nga) cho hiệu quả xử lý đạt 86-93% với COD và 73-95% với nitơ và 72% với phốtpho.
Công nghệ xử lý nước rác tại bãi Ammasuo (Phần Lan) [10] Bảng 1. Hiệu quả xử lý N-NH4+ và COD bằng quá trình yếm khí – hiếu khí kết hợp tại bãi rác Ammasuo – Phần Lan [10] Hiệu COD Thời Hiệu Quá suất Nhiệt độ đầu N-NH4 + gian suất trình xử xử lý (oC) vào (mg/l) lưu xử lý lý COD (mg/l) (ngày) Nitơ (%) (%) Xử lý 1.300 Xử lý 400- 10-11 20-80 80-250 4,2 65-99,9 hiếu khí 1.000 Xử lý kết 80-90 5,5 65-99 hợp b. Tại Anh và Scotlen Công nghệ SBR (gồm 01 hệ 03 bể hoạt động luân phiên liên tục theo sơ đồ hình được nghiên cứu ở Anh năm 1992 và được áp dụng tại bãi chôn lấp hợp vệ sinh Deepmoor và bãi chôn lấp hở Gairtloch (Scotlen) hiệu quả xử lý COD ≥90%, N-NH4+ ≥98%. Công nghệ xử lý nước rác bãi chôn lấp Deepmoor Anh [10] Bảng 1.
Kết quả vận hành hệ thống xử lý bằng công nghệ SBR tại Deepmoor (Anh) và Gairtloch (Scotlen) [10] Bãi chôn COD BOD 5 N-NH 4+ Thông số pH lấp (mg/l) (mg/l) (mg/l) Gairloch Dòng vào 6,7-7,5 830-1.033 227-167 Deepmoor Gairloch Dòng ra 8,3-7,6 163-162 40-70 1,0-0,6 Deepmoor Hiệu suất Gairloch - 90-99% 90-99% 98-99% xử lý Deepmoor c. Tại Đức Một trong những công nghệ xử lý nước rác được áp dụng ở Đức là công nghệ kết hợp giữa 03 quá trình: sinh học, cơ học và hóa học. Bước đầu tiên trong công nghệ xử lý là quá trình nitrat hóa và khử nitrat để loại bỏ nitơ. Quá trình lắng được thực hiện nhằm tách bùn sinh học để tránh ảnh hưởng tới quá trình oxy hóa các chất hữu cơ khó phân hủy sinh học bằng ozon.
Sau oxi hóa bằng ozon các thành phần hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học tiếp tục được loại bỏ trong thiết bị dạng đĩa lọc sinh học, đây là bước cuối cùng của dây chuyền xử lý. Công nghệ xử lý sinh học kết hợp oxi hóa [10] 7 Với quy trình xử lý trên các thành phần ô nhiễm chính trong nước như COD, N-NH4+ sau xử lý đạt tiêu chuẩn thải.