CHƯƠNG I: KHỦNG HOẢNG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ ĐẠI NGHỊ “VAY MƯỢN” PHƯƠNG TÂY VÀ XÁC LẬP NỀN “TRẬT TỰ MỚI” 1. Từ Dân chủ đại nghị “vay mượn” đến “Nền Dân chủ có định hướng” của Sukarno 1.1 Chế độ Dân chủ - đại nghị phương Tây - mô hình chính trị - xã hội vay mượn không thích hợp Nền Dân chủ - đại nghị có nguồn gốc từ Anh, là hình thức chính phủ được các đại diện của nhân dân thành lập trên nguyên tắc thi hành chủ quyền nhân dân thông qua Quốc hội, người đứng đầu Quốc hội là Thủ tướng2. Trong cuộc tổng tuyển cử chính phủ mới ở xã hội có hệ thống đại nghị thì việc bầu chọn các đại diện vào quốc hội là việc đầu tiên, sau đó các đại diện sẽ bầu ra thủ tướng, Thủ tướng sẽ thành lập nội các, đề cử các chức vụ Bộ trưởng để lãnh đạo hành pháp. Thông thường hệ thống đại nghị có lưỡng viện Quốc hội, (bicameral) tức là Quốc hội được chia làm hai tầng Hạ viện (gồm các dân biểu) và Thượng viện (gồm các nghị sĩ).
Hạ viện với chức năng quyển hạn là thành lập hành pháp tức chính phủ và soạn thảo biểu quyết luật và phán quyết những vấn đề tối cao của đất nước như tuyên chiến và phê chuẩn hiệp ước v.Thượng viện với chức 13 năng quyền hạn điều chỉnh những đạo luật hoặc đưa ra những lý do phủ quyết những chính sách của chính phủ. Trong hệ thống đại nghị, thường có là nền Quân chủ lập hiến, nghĩa là có vua, nữ hoàng là nguyên thủ quốc gia và Thủ tướng lãnh đạo hành pháp của chính phủ như ở Anh, Úc, Thuỵ Điển, Đan Mạch,. Và hệ thống đại nghị cũng là Cộng hoà, nơi mà Tổng thống là nguyên thủ quốc gia còn lãnh đạo hành pháp trong chính phủ là Thủ tướng như cộng hoà Liên bang Đức, Do Thái,. Cả hai chức vụ Tổng thống và Thủ tướng đều do Quốc hội tiến cử và biểu quyết.
Hoạt động của chế độ Dân chủ Đại nghị có những đặc điểm chủ yếu như sau: - Đặt sự hoạt động của chính quyền hoặc của bộ máy hành pháp vào khuôn khổ của luật pháp được chuẩn y bởi một quốc hội do dân bầu - Công nhận những quyền cá nhân về tố tụng (quyền được xét xử công bình), về tự do ngôn luận, tự do tụ tập và tự do đi lại; - Thiết lập một bộ máy tư pháp độc lập với hành pháp và lập pháp để thể hiện đúng vai trò canh giữ luật pháp và quyền cá nhân. Sự khác biệt giữa lịch sử hình thành văn hoá, chính trị, xã hội và tập quán giữa phương Đông và phương Tây khiến cho việc tiếp thu và áp dụng tư tưởng Dân chủ - Đại nghị của các quốc gia phương Đông không phù hợp và đã đem lại những kết quả không như mọng đợi. Sau thế chiến thứ hai, các nước mới giành được độc lập cần thiết phải chọn cho mình một mô hình quản lý xã hội nhằm giải quyết các nhiệm vụ bức 2 Thủ tướng là nhân vật chính trị lãnh đạo cao nhất, đứng đầu ngành hành pháp trong một quốc gia chính thể nghị 14 thiết: khắc phục hậu quả của chiến tranh giải phóng đất nước, tiến hành phát triển kinh tế - chính trị thoát khỏi tình trạng đói nghèo, lạc hậu và sự phụ thuộc vào các nước Tư bản chủ nghĩa. Một nhóm nước lựa chọn xu hướng phát triển phi tư bản chủ nghĩa; nhóm khác- lại tìm đến con đường phát triển tư bản chủ nghĩa.
Ở Đông Nam Á cũng diễn ra tình trạng tương tự. Các quốc gia Đông Nam Á đã tiếp thu và vận hành chế độ dân chủ vay mượn phương Tây theo nhiều chiều hướng khác nhau, nhưng chủ yếu là ba mô hình cơ bản nhất: Thứ nhất: Thiết lập chế độ độc đoán chuyên quyền ngay từ đầu và tồn tại suốt cả chặng đường dài tiếp theo; Thứ hai: Tiếp thu và hoàn thiện từng bước chế độ dân chủ Nghị viện; Thứ ba: Pha tạp giữa dân chủ Nghị viện và chuyên quyền độc đoán. Tuy vậy, nền dân chủ chưa có gốc này đã không đủ sức đưa ra và thực hiện đến cùng các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Bất ổn chính trị mà phổ biến là các cuộc đảo chính và sự thay đổi chính phủ thường xuyên xảy ra là nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội chứng tỏ cần phải có một nhà nước mạnh để tiến hành các cải cách kinh tế.
Indonesia lựa chọn mô hình phát triển thứ ba, tức “mô hình pha tạp giữa dân chủ Nghị viện và chuyên quyền độc đoán”.1 Chế độ Dân chủ “vay mượn” (1954-1957) Ngay sau ngày tuyên bố độc lập ngày 17-08-1945, ngày 18-08-1945 Hiến pháp nước Cộng hòa Indonesia được ban hành. Bản hiến pháp tuyên bố nền độc viện và đứng đầu về ngành hành chính trong chính phhur của một quốc gia theo chính thể cộng hòa 15 lập hoàn toàn của Indonesia mới, xác lập sự kiểm soát của Nhà nước đối với các lĩnh vực sản xuất then chốt, đối với đất đai, các nguồn tài nguyên,. Indonesia đã trải qua ba Hiến pháp tạm thời trong ba giai đoạn: tháng 8/1945, tháng 12/1950 và tháng 8/1959. Điều 1 của Hiến pháp năm 1945 ghi rõ Indonesia là một nước Cộng hòa mà quyền tối cao thuộc về nhân dân, chế độ tổng thống là một thể chế thiết yếu của chính thể Indonesia.
Nền quốc phòng và sự phát triển quốc gia dựa vào các nguyên tắc cơ bản của triết lý quốc gia (Pancasila). Ngoài ra Hiến pháp cũng quy định việc thành lập một số cơ quan trọng yếu của Nhà nước như: Hội đồng Hiệp thương Nhân dân (Quốc hội), Tổng thống, Hạ nghị viện, Hội đồng tư vấn tối cao, Hội đồng kiểm toán Nhà nước, Tòa án tối cao (Pháp viện tối cao) [32], [28]. Theo quy định của Hiến pháp thì Tổng thống không có quyền giải tán Viện đại biểu, trái lại, Viện đại biểu cũng không có quyền truất Tổng thống. Nhưng vì tất cả các thành viên của Viện đại biểu là thành viên của Hội đồng Hiệp thương Nhân dân, do đó Viện đại biểu có thể kiểm tra hoạt động của Tổng thống và có thể đề nghị triệu tập Hội đồng Hiệp thương Nhân dân họp phiên đặc biệt để chất vấn Tổng thống, người đứng đầu Nhà nước: Trong hệ thống Chính phủ Cộng hòa Indonesia, Hội đồng hiệp thương Nhân dân (MPR) là cơ quan quyền lực tối cao của Nhà nước Indonesia.
MPR có chức năng bầu ra Tổng thống, sửa đổi Hiếp pháp và thông qua các mục tiêu chính sách của Chính phủ. Hội đồng Hiệp thương Nhân dân có nhiệm kỳ 5 năm, gồm có 700 thành viên, bao gồm 500 đại biểu thuộc Hội đồng Đại diện Nhân dân (DPR), còn gọi là Quốc hội (trong tổng số 500 đại biểu Quốc hội, có 462 đại biểu được bầu trực tiếp trong cuộc tổng tuyển cử và 38 đại biểu dành riêng cho 16 quân đội không thông qua bầu cử) và 200 đại biểu do Tổng thống chỉ định (gồm 135 đại biểu từ các khu vực và 65 đại biểu từ các lĩnh vực chuyên ngành) [32], [43]. Luật bầu cử Indonesia quy định một ứng cử viên Tổng thống được xác định là trúng cử Tổng thống khi giành được hơn nửa tổng số phiếu của 700 đại biểu Hội đồng Hiệp thương Nhân dân. Tổng thổng vừa là người đứng đầu Nhà nước, vừa là người đứng đầu Chính phủ, là người được ủy nhiệm của Hội đồng Hiệp thương Nhân dân và chịu trách nhiệm trước Hội đồng Hiệp thương Nhân dân về việc điều hành Chính phủ.
Phó Tổng thống là người giúp Tổng thống thực thi nhiệm vụ của Tổng thống3. Cơ quan lập pháp: Quyền Lập pháp là quyền ban hành các đạo luật. Đạo luật cao nhất của một quốc gia là Hiến pháp, Hiến pháp của một nước Cộng hòa được xây dựng trên nền tảng của một Quốc hội Lập hiến do dân bầu ra. Quốc hội ban hành các đạo luật, tức là xây dựng các quy tắc pháp lý cơ bản để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội4.
Cơ quan lập pháp của Indonesia gồm: Hội đồng Hiệp thương Nhân dân (Quốc hội) và Hạ nghị viện. Hội đồng Hiệp thương Nhân dân (Quốc hội): là tổ chức chính trị cao nhất nước, thực thi quyền lực của nhân dân trên cơ sở Hiến pháp. Theo quy định của 3 Điều 4, chương III – Hiến pháp nước Cộng hòa Inđônêxia năm 1945 4 Điều 3, chương II – Hiến pháp nước Cộng Hòa Inđônêxia năm 1945 17 Hiến pháp, Quốc hội bầu ra Tổng thống, phó Tổng thống và ủy ban chỉ đạo chính sách nhà nước trong thời hạn 5 năm. Hạ nghị viện: Trong nhiệm kỳ 5 năm, Hạ nghị viện họp 4 kỳ, mỗi kỳ 2 tháng.
Theo Hiến pháp quy định, Hạ nghị viện có quyền đệ trình dự thảo luật cho Tổng thống. Hạ nghị viện được chia ra 11 Ủy ban thường trực đảm nhiệm công tác lập pháp, giám sát và ngân sách, 2 Ủy ban phụ trách về công tác tổ chức và hợp tác liên nghị viện. Hạ nghị viện bầu Ủy ban thường vụ là ban lãnh đạo chịu trách nhiệm về các hoạt động của viện. Ba tháng một lần, các đại biểu báo cáo trước Ủy ban của mình về công việc của Bộ (cơ quan của đại biểu đó).
Trên thực tế, Tổng thống có ưu thế trong Hạ nghị viện vì có sự ủng hộ của quân đội. Chức năng chủ yếu của Hạ nghị viện là hợp pháp các hoạt động hành pháp thông qua các báo cáo và thảo luận tại Hạ nghị viện. Cơ quan hành pháp: Ở Indonesia, Tổng thống có quyền hành pháp cao nhất của Chính phủ. Theo Hiến pháp, Tổng thống có trách nhiệm trước Quốc hội và trên thực tế, Tổng thống đã điều hành cơ quan hành pháp bằng “sắc lệnh mới”, Tổng thống kiểm soát các hoạt động của Chính phủ và kiểm tra lực lượng vũ trang.
Tổng thống bổ nhiệm các Bộ trưởng, những người trợ lý của ông và chỉ chịu trách nhiệm trước ông. Các thống đốc cũng do Tổng thống bổ nhiệm sau khi có hai hoặc ba ứng viên được ra bầu và được cơ quan lập pháp của tỉnh đệ trình Bộ trưởng Nội vụ. Tất cả các quan chức Nhà nước cấp cao và các thẩm phán đều phải chịu trách nhiệm trước Tổng thống. Các luật đều do Tổng thống công bố.
Vì Indonesia vừa thoát khỏi sự bóc lột của đế quốc, kinh tế Indonesia lúc này vẫn 18 còn nằm trong hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới, các tổ chức lũng đoạn nước ngoài còn duy trì được vị trí mạnh mẽ trong nền kinh tế trong nước, còn ở nông thôn vẫn chịu ảnh hưởng của những tàn tích phong kiến. Cuộc khủng hoảng của chế độ dân chủ đại nghị của Indonesia ngày càng bộc lộ rõ ràng.