Mở đầu Chương |: Dac điểm địa chất khu vực nghiên cứu Chương 2: Cơ sở tài liệu và lý thuyết cơ bản về xây dựng mô hình địa chất ba chiều (3D) Chương 3: Xây dựng mô hình địa chất ba chiều (3D), đánh giá đặc trưng phân bố thấm chứa cho tang cát kết BI.1 Miocene dưới, mỏ Tê Tê, bồn tring Cửu Long Kết luận — kiến nghị Luận văn thạc sĩ HVTH: Lê Ngọc Tâm MSHV: 1570278 Trang 20 — Tài liệu tham khảo 10. Tổng quan về đối tượng nghiên cứu a) Điêu kiện tự nhiên: Lô 02/10 nam ở phía Đông Bắc của bé Cửu Long, đới nâng Côn Son và phía Bắc của bé Nam Côn Sơn, thuộc vùng biển ven bờ tỉnh Bình Thuận và cách thành phố Vũng Tàu khoảng 160 km về phía Đông. Mỏ Tê Tê nam ở phía Tây Bac 16 02/10 (gần ranh giới giữa lô 01/10 và 02/10), cách mỏ Thăng Long (NDH Lam Son JOC) khoảng 8 km vẻ phía Đông Bắc. Khu vực này có mực nước biên dao động từ 0 - 70m.
[10] b) Lịch sử tìm kiém thăm đò dau khi: Từ năm 1 2 đến năm 2002: Petronas là nhà thầu hoạt động thăm dò lô 01 & 02. Petronas đã thu nỗ 563.73 km” tuyến địa chấn 3D năm 2002 tại phần phía Nam của lô (khu vực Đông Đô — Thang Long) va 13,870 km địa chan 2D trong các năm 1 1,1 3val 5 và đã khoan 3 giếng thăm dò trên diện tích lô 01 & 02: giếng 02-D-1X (Saphire), 02-M-1X (Opal) và 01-E-1X (Agate). Giêng Opal có biểu hiện dau, còn hai giếng Saphire va Agate cho kết quả khô. Sau giai đoạn thăm dò, Petronas đã giữ lại một phần vùng tây lô 01 (các mỏ Ruby, Jade, Diamond, Topaz) và đã trả lại diện tích phan lớn hai lô 01 & 02.
Từ năm 2003 đến 200 : Petronas cùng với PVEP thành lập Công ty Điều hành chung Lam Sơn JOC hoạt động trên phan diện tích của lô 01/97 & 02/97. Lam Son JOC đã tiễn hành thu nỗ 538 km” 3D, tái xử lý 86 km 3D và 4⁄21 km địa chấn 2D. Khoan 7 giếng khoan thăm dò và thâm lượng và kết quả đã phát hiện các mỏ Đông Đô, Thăng Long và Hỗ Xám Nam. Lam Sơn JOC đã giữ lại phần diện tích mỏ Đông Đô, Thăng Long và Hồ Xám Nam đưa vào giai đoạn phát triển và phân còn lại (sau nảy là lô 01/10 & 02/10) được hoàn trả lại sau khi kết thúc Pha Thăm dò.
Từ năm 2010 đến nay: Công ty thăm dò khai thác dầu khí trong nước PVEP POC điều hành trên phần diện tích Lam Sơn JOC hoàn trả. Năm 2011, PVEP POC Luận văn thạc sĩ HVTH: Lê Ngọc Tâm MSHV: 1570278 Trang 21 đã tiễn hành tái xử lý và minh giải 520 km” tài liệu địa chan 3D bao phủ khu vực Tê Tê, chia ra 3 cau trúc nếp lôi: Tê Tê Nam, Tê Tê Trung Tâm (Hỗ Tây cũ) và Tê Tê Bac. Đó là cơ sở để xác định vị trí giếng khoan 02/10-TT-1X (năm 2013) trên cau trúc Tê Tê Nam. Từ phát hiện của TT-1X, các giếng khoan tiếp theo là TT-2X & TT- X trên cấu tạo Tê Tê Nam.
Tính đến thời điểm tháng 6/2017, mỏ Tê Tê (thuộc cấu tạo Tê Tê Nam) đã được khoan tong cộng 3 giếng khoan thăm dò và thâm lượng, cụ thể: — Giếng khoan thăm dò TT-IX (tháng 4/2013) đã phát hiện 5 tầng chứa dau khí trong: đá móng granite; cát kết BL. — Giếng khoan thâm lượng TT-2X (tháng 5/2013) được khoan với mục đích thấm lượng cho tang mong granite, kết quả cho dòng thành công. — Giếng TT-4X (tháng 5/2015) được khoan với mục đích thăm dò/thẳm lượng đối tượng chính là cát kết Oligocene E và móng, tuy nhiên kết quả cho dòng không thành công. [5] c) Khái quát về tiêm năng dấu khi của tang cát kết Miocene mỏ Tê Tê: Kết quả nghiên cứu đã cho thay cau trúc địa chất và đặc điểm hệ thống dầu khí mỏ Tê Tê tương tự như các phát hiện Thăng Long, Đông Đô, Kình Ngư Trang, Kinh Ngư Trang Nam.
Về nguồn sinh và di cu dầu khí khu vực này được đánh giá là khá tốt, khi các cấu trúc xung quanh đều đã có phát hiện dầu khí và gần nguôn sinh. Đối với đối tượng chứa Miocene của mỏ, tầng chứa Miocene bao gồm các tập vỉa BI.2 tuôi Miocene sớm và các tập via BII.2 tuôi Miocene giữa được thành tạo chủ yếu trong môi trường sông cho đến biển nông có độ rỗng khá tốt từ 10 - 30 %, độ thấm từ 5 - 3,000 mD. Dé đánh giá tiềm năng dau khí tầng cát kết BI.1 Miocene dưới mỏ Tê Tê, thông số đầu vào được tham khảo kết quả của các giếng khoan TT-1X, 2X & 4X. Trong đó các giếng TT-2X & X với mục đích thăm dò/thâm lượng đối tượng chủ yếu là mong, cát kết Oligocene, duy chỉ có giếng TT-1X đã khang định được tiềm năng của tầng Miocene qua phát hiện dầu khí của kết quả khoan, cụ thể đã phát hiện Luận văn thạc sĩ HVTH: Lê Ngọc Tâm MSHV: 1570278 Trang 22 các tang chứa dầu khí bao gồm cát kết Miocene dưới (BI.2), cát kết Miocene giữa (BII.
Kết quả thử via của giếng khoan qua 2 DST đã được thực hiện, cụ thé DST#2 được tiễn hành trong tang chứa BI.1 dat lưu lượng ôn định từ 800 - 850 thùng dầu/ngày (25 °API), không có nước (choke size 0/6 ”, bơm Nitrogen); DST#3 được tiễn hành trong tầng chứa BII.10 với kết qua 00 - 500 thùng dầu/ngày (20 °API), không có nước, 0.15 triệu bộ khối khi/ngay (choke size 36/6 ”). [10] Qua đó, tiềm năng dau khí của tầng cát kết BI.1 Miocene dưới mỏ Tê Tê đã được xác định và cần tiếp tục đánh giá để từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình, đánh giá đặc trưng phân bố thâm chứa nhằm hạn chế rủi ro trong công tác đánh giá cập nhật trữ lượng dau khí tại chỗ, quản lý mỏ và tối ưu khai thác trong tương lai. Luận văn thạc sĩ HVTH: Lê Ngọc Tâm MSHV: 1570278 Trang 23 CHƯƠNG 1: TONG QUAN ĐẶC DIEM DIA CHAT KHU VUC NGHIEN CUU 1. Tong quan bồn tring Cửu Long 1.
Lịch sử phát triển bồn tring Cửu Long Bồn tring Cửu Long nam trên thêm lục địa phía Nam Việt Nam va một phan đất liền thuộc khu vực cửa sông Cửu Long, tọa độ địa lý trong khoảng °_ 11° vĩ độ Bắc và 106”30° - 109” kinh độ Dong, có hình bầu dục nằm dọc theo bờ biên Vũng Tàu — Binh Thuận, kéo dai từ Phan Thiết tới sông Hậu, cách bờ biển Vũng Tau khoảng 135 km. Bồn trũng Cửu Long tiếp giáp với đất liền về phía Tây Bắc, ngăn cách với bồn tring Nam Côn Son bởi đới nâng Côn Son, phía Tay Nam là đới nâng Khorat Natuna và phía Bac là đới trượt Tuy Hòa ngăn cách với bồn tring Phú Khánh. Bồn trũng có diện tích khoảng 36,000 km” va được lấp đầy chủ yếu bởi trầm tích lục nguyên Kainozoi (bề dày lớp trầm tích này đạt tới 7 - 8 km tại trung tâm bồn trũng). Bồn trũng Cửu Long là một bồn rift nội lục.
Những đặc điểm cấu trúc và địa tang trầm tích đã xác nhận các giai đoạn tiễn hóa của bồn, nó liên quan với các chế độ địa động lực khác nhau. Lịch sử phát triển địa chất của bồn tring Cửu Long trong mối liên quan với lịch sử kiến tạo khu vực có thể chia ra ba thời kỳ chính như sau: trước tao rift hình thành nên hình thái của bề mặt mong; đồng tao rift hình thành các cau tao và dang bay chứa, tang chăn đồng thời là pha lắng đọng trầm tích và chôn vùi chính của bổn trũng, quá trình nay từ Eocene đến Oligocene; sau tao rift xảy ra từ Miocene sớm đến nay, đây là quá trình bình 6n kiến tạo và đá mẹ trưởng thành và sinh dầu để di cư tích tụ trong các bẫy chứa. — Thời kỳ trước tao rift: là giai đoạn cố kết móng trước Kainozoi của bồn tring, liên quan với sự hội tụ của các lục địa vào cudi Mezozoi ma pha tan du cua chúng kéo dai tới Eocene. Sự hội tu của hai lục địa Ấn — Úc và Âu —- A đã nâng toàn bộ thềm Sunda lên cao và làm tiêu biến hoàn toàn đại dương Tethys ở Đông Nam A.
Ở đây hau hết phát triển mạnh các dải magma xâm nhập và phun trào có tuổi từ Jura đến Eocene. Các trũng tan dư của thời kỳ Mezozoi hoặc là các thung Luận văn thạc sĩ HVTH: Lê Ngọc Tâm MSHV: 1570278 Trang 24 lũng hẹp, hoặc là các hồ nước mặn bị khô cạn. Hoạt động mạnh mẽ cua magma xâm nhập và phun trào khu vực xung quanh bồn trũng Cửu Long đi kèm với các chuyển động khối tảng, kiến tạo do sự va chạm của các mảng lục địa, đã hình thành hàng loạt đứt gãy làm phân cắt, phức tạp bề mặt cỗ địa hình cuối Mezozoi đầu Kainozoi. Vỏ lục địa vừa được cố kết bắt đầu bị phá vỡ thành các khối nâng va vùng sụt do tách giãn.
Bồn tring Cửu Long được hình thành trên các vùng sụt khu vực thuộc thời ky tiền tách giãn Paleocene — Eocene. [2| — Thời kỳ đồng tạo rift: là giai đoạn tách giãn hình thành bồn tích tụ theo cau trúc riêng, xảy ra từ Eocene đến Oligocene. Vào thời kỳ này, đáy bồn bị phân cắt bởi các đứt gãy lớn thành các khối kéo dài có bề rộng khác nhau, sau đó bị bẻ gãy bởi các đứt gãy ngang ở những khoảng cách khác nhau, tạo nên các khối nhô và khối sụt, hình thành nhiều bán địa hao. Đó là đơn vi cau trúc cơ ban của bén rift nội lục Cửu Long.
Quá trình tăng cường các hoạt động tách giãn làm cho bồn sụt lún sâu hơn. Trong giai đoạn đầu, nguồn cung cấp vật liệu trầm tích ít, điều kiện khí hậu thuận lợi đã tạo nên hồ sâu với sự tích tụ các tang trầm tích sét hỗ day trên diện rộng thuộc tập D. Các trầm tích giàu cát hơn thuộc tập C sau đó đánh dau giai doan lap day bồn rift. Vùng trung tâm bồn tring có bề dày trầm tích lớn, gây ra sự sụt lún trọng lực tạo ra các đứt gãy đồng trầm tích và kéo xoay các trầm tích Oligocene.
Cuối Oligocene, phần Bac của bén trũng do sự nén ép địa phương hoặc địa tang đã xuất hiện sự nghịch đảo một số nơi, tạo nên một số cấu tạo lỗi hình hoa với sự bao mòn, vat mỏng mạnh mẽ của lớp trầm tích thuộc tập C. Trầm tích Eocene — Oligocene trong các trũng chính có thé day đến 5,000m, thành tao trong các môi trường trầm tích hỗ, sông, châu thổ. Sự kết thúc hoạt động của phan lớn các đứt gay và bất chỉnh hợp ở nóc trầm tích Oligocene đánh dau sự kết thúc thời ky nay.