Tổng quan luận án

Công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu cấp thiết về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định giáo dục và đào tạo là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, trong đó nhấn mạnh việc đào tạo đội ngũ công nhân tay nghề cao. Mục tiêu chiến lược giai đoạn này là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên khoảng 40% vào năm 2010. Để đáp ứng quy mô đào tạo nghề tăng gấp đôi, Nghị quyết số 37 của Quốc hội đặt ra yêu cầu xây dựng đội ngũ giáo viên dạy nghề (GVDN) đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu ngành nghề và bảo đảm chất lượng.

Tuy nhiên, công tác đào tạo GVDN ở thời điểm nghiên cứu bộc lộ nhiều bất cập lớn:

  • Về quy mô và số lượng: Số liệu của Tổng cục Dạy nghề năm học 2003 - 2004 cho thấy tỷ lệ giáo viên/học sinh là 1/28, chỉ đạt một nửa so với định mức quy chuẩn (1/15).
  • Về cơ cấu ngành nghề: Hệ thống dạy nghề trên toàn quốc đào tạo 186 nghề khác nhau, nhưng hệ thống các trường sư phạm kỹ thuật (SPKT) chỉ mới đào tạo được giáo viên cho 21 nghề (chủ yếu thuộc khối cơ khí, điện, điện tử, công nghệ thông tin). Còn lại 165 nghề chưa có cơ sở đào tạo giáo viên chuyên trách.
  • Về mô hình đào tạo: Mô hình tuyển học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) đào tạo 3 năm thành GVDN trình độ cao đẳng (vừa là công nhân kỹ thuật bậc 4/7, vừa có trình độ kỹ thuật và nghiệp vụ sư phạm) bộc lộ sự quá tải, không bảo đảm được chất lượng tay nghề thực hành.

Luận án "Xây dựng mô hình đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề từ công nhân kỹ thuật" của nghiên cứu sinh Nguyễn Xuân Mai (chuyên ngành Giáo dục học, mã số 62.01, Đại học Quốc gia Hà Nội - Khoa Sư phạm, năm 2006, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Minh Đường và PGS. Phan Văn Kha) được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn nêu trên.

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, xây dựng mô hình đào tạo liên thông GVDN từ công nhân kỹ thuật (CNKT) và đề xuất các biện pháp triển khai nhằm nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô và cơ cấu ngành nghề đào tạo GVDN.

Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

  • Khách thể nghiên cứu: Quá trình đào tạo GVDN.
  • Đối tượng nghiên cứu: Mô hình đào tạo liên thông GVDN từ CNKT.

Phạm vi và giới hạn nghiên cứu:

  • Luận án tập trung nghiên cứu loại hình GVDN tích hợp (vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành theo các chương trình mô đun của Dự án Giáo dục kỹ thuật và Dạy nghề).
  • Cấp trình độ đào tạo: GVDN trình độ cao đẳng.
  • Phạm vi thực nghiệm: Xây dựng chương trình và đào tạo thí điểm 01 lớp GVDN hàn trình độ cao đẳng liên thông từ CNKT nghề hàn đã có trình độ văn hóa THPT.

Giả thuyết khoa học: Việc các trường SPKT chỉ đào tạo được GVDN cho 21/186 nghề và thời gian đào tạo 3 năm từ học sinh THPT không bảo đảm chất lượng là rào cản lớn cho phát triển dạy nghề. Nếu thực hiện đào tạo GVDN theo mô hình liên thông từ CNKT thì sẽ góp phần phát triển quy mô, mở rộng cơ cấu ngành nghề và nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ GVDN.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Xây dựng cơ sở lý luận về mô hình đào tạo liên thông GVDN từ CNKT.
  2. Đánh giá thực trạng về đội ngũ GVDN và công tác đào tạo GVDN tại Việt Nam cùng kinh nghiệm một số nước.
  3. Xây dựng mô hình đào tạo liên thông GVDN từ CNKT.
  4. Xây dựng chương trình đào tạo liên thông GVDN hàn từ CNKT nghề hàn và tổ chức đào tạo thí điểm để kiểm chứng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Vấn đề đào tạo giáo viên kỹ thuật và GVDN đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả quốc tế và trong nước với các hướng tiếp cận đa dạng:

Trên bình diện quốc tế, Lynch (1997) xác lập các nguyên tắc phát triển chương trình đào tạo GVDN dựa trên phương pháp dạy học tích hợp lý thuyết - thực hành và triết lý học tập suốt đời. Tozer và Nelson (1988) nhấn mạnh yêu cầu trang bị kỹ năng kỹ thuật thích ứng với chuyển đổi công nghệ. Sharp (1996) đề cập đến việc xóa bỏ ranh giới giữa giáo dục hàn lâm và giáo dục nghề nghiệp nhằm phát triển kỹ năng kỹ thuật kết hợp kỹ năng quan hệ xã hội. Miller (1996) phân tích cách tiếp cận "cấu trúc - thiết kế" nhằm đào tạo người học có năng lực giải quyết vấn đề. Báo cáo của UNESCO xác định 4 trụ cột giáo dục của thế kỷ 21: học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để tự khẳng định mình.

Kinh nghiệm quốc tế về mô hình tổ chức đào tạo GVDN cho thấy tính đa dạng:

  • Cộng hòa Liên bang Đức áp dụng mô hình đào tạo chính quy thống nhất ở trình độ đại học tại các khoa SPKT, điều kiện bắt buộc là người học phải có nghề từ trước và sau khi tốt nghiệp phải có 2 năm làm việc thực tế mới được cấp bằng GVDN.
  • Mỹ tuyển sinh đầu vào từ người tốt nghiệp cao đẳng cộng đồng, trường kỹ thuật hoặc đại học kỹ thuật, sau đó đào tạo bổ sung khối kiến thức sư phạm.
  • Australia kết hợp đào tạo chính quy tại các trường đại học (Monash, Newcastle, Melbourne, Sydney) với việc tuyển chọn người có tay nghề cao từ các cơ sở công nghiệp và chuẩn hóa sư phạm qua các khóa học tại chức kéo dài 1 đến 2 năm.
  • Malaysia áp dụng cơ cấu chương trình gồm 40% lý thuyết và 60% thực hành, bao gồm 17 tuần thực tập tại doanh nghiệp và 14 tuần thực tập sư phạm.
  • Philippines tổ chức đào tạo GVKT 4 năm tại trường SPKT hoặc 5 năm tại trường đại học kỹ thuật, giáo viên thực hành đào tạo 3 năm hoặc tuyển người từ trường kỹ thuật học thêm nghiệp vụ sư phạm.

Tại Việt Nam, nghiên cứu về GVDN bắt đầu từ những năm 1970 - 1980 với các công trình của Nguyễn Hùng Sinh, Trần Ngọc Chuyên, Hoàng Xuân Quý về mô hình nhân cách, mô hình hoạt động và năng lực người GVDN. Các đề tài nghiên cứu cấp Bộ và cấp Nhà nước gồm: Đề tài 52VB-10.01 (1988, 1989) về kỹ năng lao động chung và phương pháp dạy thực hành; Đề tài cấp Nhà nước 52-VNN-03 về mục tiêu, nội dung giáo dục; Đề tài cấp Bộ B99-52-36 do Nguyễn Đức Trí chủ nhiệm về mô hình giảng viên kỹ thuật trình độ đại học cho các trường THCN - DN. Các luận án tiến sĩ của Đỗ Huân (1994), Bùi Văn Quân (2001), Trần Hùng Lượng (2002), Phan Chính Thức (2003) và giáo trình "Sư phạm kỹ thuật" của Trần Khánh Đức (2002) đã phân tích sâu các khía cạnh lý luận sư phạm kỹ thuật. Về phát triển chương trình, Dự án ADB - VIE - TA 3063 của Nguyễn Minh Đường đã ứng dụng phương pháp phân tích nghề DACUM. Về đào tạo liên thông, các hội thảo khoa học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (năm 2001) và Quyết định 49/2002/QĐ-BGD&ĐT đã đặt cơ sở pháp lý ban đầu cho liên thông dọc giữa dạy nghề, THCN, cao đẳng và đại học.

Khoảng trống nghiên cứu: Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc so sánh liên thông dọc giữa các cấp bậc đào tạo học thuật hoặc đề xuất các mô hình giảng viên đại học mang tính khái quát, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống mô hình đào tạo liên thông GVDN từ nguồn công nhân kỹ thuật kết hợp giữa liên thông dọc (nâng cao trình độ) và liên thông ngang (chuyển đổi chuyên môn nghề sang sư phạm dạy nghề), đồng thời xây dựng quy trình thiết kế chương trình theo mô đun và kiểm chứng thực nghiệm bằng việc tổ chức đào tạo thí điểm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống các khái niệm và lý thuyết nền tảng trong khoa học giáo dục:

  • Khái niệm mô hình và mô hình hóa: Phân loại thành mô hình thực thể và mô hình khái niệm; sử dụng phương pháp mô hình hóa để trừu tượng hóa và thiết kế cấu trúc hệ thống đào tạo mới dựa trên hệ thống sẵn có.
  • Khái niệm đào tạo nghề: Được xác định theo tiếp cận thị trường là quá trình hoạt động có tổ chức nhằm phát triển hệ thống kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp phù hợp với thị trường lao động.
  • Năng lực thực hiện (Competency): Cấu trúc gồm ba thành tố: Kiến thức (Knowledge), Kỹ năng (Skill) và Thái độ (Attitude).
  • Đào tạo liên thông: Bao gồm liên thông dọc (kế thừa từ trình độ thấp lên trình độ cao hơn trong cùng ngành nghề) và liên thông ngang (chuyển đổi từ chương trình đào tạo ngành nghề này sang ngành nghề khác có công nhận kết quả học tập tích lũy).
  • Quản lý đào tạo: Tiếp cận theo 4 chức năng quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) trên các đối tượng: mục tiêu, chương trình, quá trình đào tạo và điều kiện bảo đảm chất lượng.

Hai phương pháp tiếp cận chủ đạo:

  • Tiếp cận hệ thống: Đặt hệ thống SPKT trong mối quan hệ hữu cơ với giáo dục phổ thông (đầu vào), giáo dục nghề nghiệp (đầu ra phục vụ), giáo dục đại học (quy chuẩn học thuật) và hệ thống kinh tế - xã hội (khoa học công nghệ, thị trường lao động).
  • Tiếp cận thị trường: Xem xét dịch vụ đào tạo tuân thủ các quy luật giá trị, cung - cầu và cạnh tranh nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của các cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp văn bản pháp quy, tài liệu khoa học trong và ngoài nước.
  • Phương pháp mô hình hóa: Thiết kế cấu trúc tổng quát của mô hình đào tạo liên thông và các mô hình thành phần.
  • Phương pháp điều tra khảo sát và chuyên gia: Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến, phỏng vấn chuyên gia để đánh giá thực trạng đội ngũ GVDN và xin ý kiến về tính khả thi của mô hình.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức đào tạo thí điểm 01 lớp GVDN hàn trình độ cao đẳng từ CNKT và bố trí lớp đối chứng theo mô hình truyền thống để so sánh kết quả học tập.
  • Phương pháp toán thống kê: Xử lý, phân tích dữ liệu thực trạng và số liệu đánh giá kết quả thực nghiệm.

Nguồn dữ liệu: Số liệu thống kê của Tổng cục Dạy nghề (năm học 2003 - 2004), số liệu khảo sát tại các trường SPKT, chương trình đào tạo theo Quyết định 302/QĐ-CĐSPKTV-ĐT, dữ liệu phân tích nghề của Dự án ADB - VIE - TA 3063 và kết quả điểm thi, đánh giá tay nghề lớp thí điểm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Cơ sở lý luận xây dựng mô hình đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề từ công nhân kỹ thuật

Chương này tập trung xác lập khung lý luận cho đề tài thông qua việc phân tích bản chất các khái niệm: đào tạo nghề, đào tạo liên thông, GVDN, CNKT, mô hình đào tạo và quản lý đào tạo. Tác giả chỉ rõ GVDN gồm hai nhóm chức danh cần phân định: giáo viên dạy lý thuyết/thực hành nghề và giáo viên dạy các môn văn hóa, khoa học cơ bản. CNKT được phân loại theo các cấp độ: bán lành nghề, lành nghề và trình độ cao (hoặc sơ cấp, trung cấp, cao đẳng theo Luật Giáo dục 2005).

Luận án so sánh chi tiết hai phương thức đào tạo: phương thức truyền thống theo niên chế và phương thức theo học chế tín chỉ / mô đun:

Tiêu chí so sánh Phương thức theo niên chế Phương thức theo học chế tín chỉ / mô đun
Kế hoạch đào tạo Cố định theo năm học, học kỳ cứng nhắc Linh hoạt, mềm dẻo theo tiến độ cá nhân
Cấu trúc nội dung Môn học tuần tự (cơ bản $\rightarrow$ cơ sở $\rightarrow$ chuyên môn $\rightarrow$ thực hành) Chia thành các mô đun/học phần độc lập, tích hợp
Công nhận kiến thức đã có Bắt buộc học lại từ đầu, không bảo lưu kỹ năng cũ Công nhận và chuyển đổi kiến thức, kỹ năng đã tích lũy
Tính thích ứng Khó chuyển đổi ngành nghề, khó liên thông Thuận lợi cho liên thông dọc, liên thông ngang, học suốt đời
Tổ chức quản lý Đơn giản, mang tính định kỳ Phức tạp, đòi hỏi hệ thống quản lý mềm dẻo

Từ việc phân tích các thành tố cơ bản của quá trình đào tạo, luận án đề xuất mô hình đào tạo tổng quát gồm 6 thành tố tương tác: Đầu vào, Phương thức đào tạo, Chương trình đào tạo, Hình thức tổ chức đào tạo, Quản lý đào tạo và Đầu ra (sản phẩm đào tạo).

Chương I cũng phân tích mối quan hệ biện chứng giữa mô hình hoạt động nghề nghiệp, mô hình nhân cách người GVDN và nội dung chương trình đào tạo. Mô hình nhân cách người GVDN được cấu thành từ hai yếu tố cốt lõi: Phẩm chất (người công dân, thành viên xã hội, người lao động) và Năng lực (kiến thức chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng thực hành nghề bậc cao, năng lực sư phạm dạy nghề và năng lực quản lý).

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  MÔ HÌNH ĐÀO TẠO TỔNG QUÁT CỦA LUẬN ÁN                   |
|                                                                         |
|                +---------------------------------------+                |
|                |      - Phương thức đào tạo            |                |
|  ĐẦU VÀO       |      - Chương trình đào tạo           |     ĐẦU RA     |
| (Người học:    |      - Hình thức tổ chức đào tạo      |  (Sản phẩm:    |
|     CNKT)  --->|      - Quản lý đào tạo                |--->  GVDN      |
|                +---------------------------------------+   Cao đẳng)    |
|                                                                         |
+-------------------------------------------------------------------------+

Chương II: Thực trạng về giáo viên dạy nghề, đào tạo giáo viên dạy nghề ở Việt Nam và một số nước trên thế giới

Chương II phản ánh bức tranh toàn cảnh về đội ngũ GVDN và hệ thống đào tạo GVDN tại Việt Nam qua các số liệu khảo sát thực tế:

  1. Thực trạng đội ngũ GVDN:
  • Quy mô thiếu hụt nghiêm trọng: Tỷ lệ giáo viên/học sinh năm học 2003 - 2004 là 1/28.
  • Bất cập về cơ cấu ngành nghề: Toàn hệ thống có 186 nghề, song các trường SPKT chỉ đào tạo được giáo viên cho 21 nghề.
  • Chất lượng và cơ cấu trình độ: Đội ngũ GVDN hình thành từ nhiều nguồn (sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng kỹ thuật; kỹ sư chuyển sang; công nhân kỹ thuật kèm cặp). Phần lớn giáo viên yếu về kỹ năng thực hành nghề công nghệ cao hoặc thiếu chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy nghề đạt chuẩn. Khảo sát cũng cho thấy hạn chế về trình độ ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.
  1. Lịch sử phát triển mô hình đào tạo GVDN tại Việt Nam qua 6 giai đoạn:
  • Giai đoạn 1971 - 1974: Mô hình đào tạo GVKT kết hợp văn hóa và kỹ thuật sơ cấp.
  • Giai đoạn 1974 - 1979: Mô hình đào tạo tập trung tại các trường sư phạm kỹ thuật công nhân.
  • Giai đoạn 1979 - 1982: Đào tạo theo chương trình cải cách giáo dục kỹ thuật.
  • Giai đoạn 1982 - 1988: Phân hóa mô hình đào tạo giáo viên lý thuyết và giáo viên thực hành riêng biệt.
  • Giai đoạn 1988 - 1992: Chuyển đổi mô hình trong thời kỳ đầu đổi mới kinh tế.
  • Giai đoạn 1992 đến thời điểm nghiên cứu: Đào tạo hệ cao đẳng SPKT 3 năm tuyển từ học sinh tốt nghiệp THPT.
  1. Kinh nghiệm đào tạo GVDN quốc tế: Luận án phân tích sâu kinh nghiệm đào tạo GVDN của Mỹ, Cộng hòa Liên bang Đức và Australia. Điểm chung quan trọng rút ra từ quốc tế là: người học muốn trở thành GVDN bắt buộc phải có tay nghề thực hành vững vàng (đã qua đào tạo nghề hoặc có kinh nghiệm làm việc thực tế trong công nghiệp), sau đó mới học bổ sung khối kiến thức kỹ thuật nâng cao và nghiệp vụ sư phạm.

Chương III: Xây dựng mô hình đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề từ công nhân kỹ thuật

Trên cơ sở lý luận và thực trạng, Chương III tập trung xây dựng mô hình đào tạo liên thông GVDN trình độ cao đẳng từ CNKT:

  1. Các nguyên tắc xây dựng mô hình:
  • Tuân thủ Luật Giáo dục và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.
  • Bảo đảm tính mềm dẻo, linh hoạt và tính liên thông với chương trình đào tạo CNKT dài hạn hiện có.
  • Bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên tại các cơ sở tham gia liên thông.
  • Các trường SPKT giữ vai trò chủ trì chịu trách nhiệm chính về chất lượng và tổ chức đào tạo.
  1. Thiết kế các thành tố của mô hình đào tạo liên thông:
  • Đầu vào: Tuyển chọn CNKT đã tốt nghiệp các trường dạy nghề, có bằng tốt nghiệp THPT (hoặc tương đương) và có phẩm chất đạo đức tốt.
  • Đầu ra: GVDN trình độ cao đẳng có kỹ năng nghề bậc cao (tương đương thợ bậc 4/7 trở lên), có kiến thức kỹ thuật chuyên ngành và năng lực sư phạm dạy nghề tích hợp lý thuyết - thực hành.
  • Phương thức đào tạo: Đào tạo theo học chế tín chỉ / mô đun, công nhận và miễn trừ các khối kiến thức, kỹ năng người học đã đạt được trong giai đoạn đào tạo CNKT.
  • Cấu trúc chương trình: Thiết kế các chương trình chuyển tiếp (chương trình bù đắp) bao gồm 4 khối kiến thức: Kiến thức giáo dục đại cương, Kiến thức cơ sở ngành và chuyên ngành nâng cao, Kiến thức nghiệp vụ sư phạm dạy nghề và Kiến thức quản lý.
  1. Thiết kế chương trình đào tạo liên thông nghề Hàn: Luận án áp dụng phương pháp phân tích nghề DACUM để xác định danh mục nhiệm vụ, công việc của CNKT hàn và GVDN hàn. Trên cơ sở đối chiếu chương trình đào tạo CNKT nghề hàn theo Quyết định 1822/TH-DN và chương trình của Dự án "Nâng cao năng lực GDKT&DN", tác giả thiết kế chương trình chuyển tiếp liên thông GVDN hàn trình độ cao đẳng.

  2. Triển khai đào tạo thí điểm và kết quả:

  • Mục đích: Đánh giá tính khả thi, thời lượng và chất lượng của chương trình liên thông đề xuất.
  • Đối tượng: 01 lớp thực nghiệm gồm các học viên là CNKT hàn có bằng THPT, học theo chương trình liên thông mô đun chuyển tiếp.
  • Đối chứng: So sánh với lớp đào tạo GVDN theo mô hình truyền thống 3 năm (tuyển từ THPT).
  • Kết quả: Học viên lớp thí điểm đạt kết quả vượt trội về kỹ năng thực hành tay nghề, thời gian tiếp thu phần nghiệp vụ sư phạm nhanh nhờ có kinh nghiệm thực tế, đồng thời rút ngắn được tổng thời gian đào tạo tập trung tại trường SPKT so với quy trình đào tạo mới hoàn toàn.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án đã phát triển và cụ thể hóa lý luận về đào tạo theo mô đun và đào tạo liên thông trong lĩnh vực sư phạm kỹ thuật dạy nghề.
  • Xác lập mô hình đào tạo liên thông GVDN từ nguồn CNKT kết hợp đồng thời hai cơ chế: liên thông dọc (nâng cao trình độ học thuật từ công nhân lên cao đẳng kỹ thuật) và liên thông ngang (chuyển đổi chức danh từ người thợ trực tiếp sản xuất sang nhà sư phạm dạy nghề).
  • Hoàn thiện mô hình cấu trúc nhân cách và hoạt động của người GVDN tích hợp trong bối cảnh đổi mới giáo dục nghề nghiệp.

Về mặt thực tiễn:

  • Đưa ra giải pháp khả thi để giải quyết bài toán thiếu hụt giáo viên ở 165 nghề chưa có cơ sở đào tạo sư phạm chuyên trách bằng cách tuyển chọn thợ giỏi, CNKT lành nghề để đào tạo liên thông thành giáo viên.
  • Xây dựng thành công cấu trúc khung chương trình đào tạo GVDN trình độ cao đẳng và bộ chương trình chuyển tiếp chi tiết cho nghề Hàn.
  • Đề xuất mô hình tổ chức, quản lý đào tạo liên thông mềm dẻo, phương thức phối hợp giữa trường SPKT và các trường dạy nghề, doanh nghiệp.
  • Kết quả đào tạo thí điểm thành công khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học và tính khả thi của mô hình.

Kiến nghị của luận án:

  • Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Cần ban hành quy chế chính thức về đào tạo liên thông trong giáo dục nghề nghiệp; xây dựng chuẩn chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ cho GVDN tích hợp; công nhận cơ chế tích lũy mô đun/tín chỉ giữa các hệ thống trường.
  • Đối với các trường Sư phạm Kỹ thuật: Chuyển đổi mạnh mẽ cấu trúc chương trình theo hướng mô đun hóa; mở rộng đối tượng tuyển sinh sang nguồn CNKT lành nghề; hiện đại hóa trang thiết bị xưởng thực hành và phương pháp dạy học tích hợp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi cấp bậc: Luận án chỉ tập trung nghiên cứu mô hình đào tạo GVDN ở trình độ cao đẳng, chưa đi sâu giải quyết mô hình đào tạo GVDN ở trình độ đại học sư phạm kỹ thuật.
  • Về phạm vi thực nghiệm: Do điều kiện kinh phí và thời gian, việc thực nghiệm sư phạm chỉ mới được tiến hành thí điểm trên 01 lớp thuộc 01 chuyên ngành kỹ thuật duy nhất là nghề Hàn, đối tượng đầu vào giới hạn ở CNKT đã có bằng tốt nghiệp THPT.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng ứng dụng mô hình đào tạo liên thông sang các nhóm ngành nghề kỹ thuật, dịch vụ và công nghệ mới khác trong tổng số 165 nghề đang thiếu giáo viên.
  • Nghiên cứu xây dựng mô hình đào tạo liên thông GVDN lên trình độ đại học và sau đại học.
  • Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ chế liên thông cho các đối tượng đầu vào đa dạng hơn (như người học tốt nghiệp THCS học nghề, công nhân có các bậc thợ khác nhau nhưng chưa có bằng THPT).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều đối tượng:

  • Cơ quan hoạch định chính sách giáo dục (Bộ GD&ĐT, Tổng cục Dạy nghề): Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực tiễn để ban hành các thông tư, quy định về đào tạo liên thông, quy hoạch mạng lưới cơ sở đào tạo GVDN và tiêu chuẩn chức danh nhà giáo giáo dục nghề nghiệp.
  • Các trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật, Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật: Cung cấp phương pháp luận và quy trình phân tích nghề DACUM để thiết kế chương trình đào tạo theo mô đun, xây dựng các chương trình chuyển tiếp cho từng ngành nghề cụ thể.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Giáo dục học, Sư phạm Kỹ thuật, Quản lý Giáo dục: Tham khảo về phương pháp tiếp cận hệ thống, tiếp cận thị trường và phương pháp mô hình hóa trong nghiên cứu phát triển chương trình đào tạo nghề.

Câu hỏi thường gặp

1. Mô hình đào tạo GVDN truyền thống tuyển từ học sinh THPT bộc lộ hạn chế cơ bản nào?
Mô hình tuyển học sinh THPT đào tạo 3 năm không thể bảo đảm cùng lúc ba mục tiêu: hình thành kỹ năng tay nghề vững vàng (bậc 4/7), trang bị kiến thức kỹ thuật trình độ cao đẳng và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm dạy nghề. Sinh viên ra trường thường yếu về kỹ năng thao tác thực hành sản xuất thực tế.

2. Điểm khác biệt cốt lõi của mô hình đào tạo liên thông GVDN từ CNKT là gì?
Mô hình tuyển sinh đầu vào là những người đã có kỹ năng nghề (CNKT lành nghề), sau đó áp dụng học chế tín chỉ/mô đun để công nhận kết quả tay nghề đã có, chỉ tập trung đào tạo bổ sung kiến thức kỹ thuật nâng cao, kỹ năng công nghệ mới và nghiệp vụ sư phạm dạy nghề, kết hợp liên thông dọc và liên thông ngang.

3. Tại sao mô hình đào tạo liên thông lại giải quyết được sự thiếu hụt giáo viên ở 165 nghề chưa có nơi đào tạo?
Các trường SPKT không đủ nguồn lực để mở mới ngành đào tạo giáo viên cho tất cả 186 nghề. Bằng cách tuyển CNKT lành nghề đã được đào tạo tại các cơ sở dạy nghề chuyên ngành trong toàn quốc về trường SPKT để bồi dưỡng bổ sung nghiệp vụ sư phạm và nâng cao trình độ, hệ thống có thể nhanh chóng tạo ra đội ngũ giáo viên cho bất kỳ nghề nào.

4. Luận án đã sử dụng phương pháp nào để xây dựng chương trình chuyển tiếp nghề Hàn?
Luận án sử dụng phương pháp phân tích nghề DACUM kết hợp tiếp cận hệ thống và tiếp cận thị trường để xác định cấu trúc nhiệm vụ, công việc của GVDN hàn, từ đó đối chiếu chương trình đào tạo CNKT hàn hiện hành với chuẩn đầu ra cao đẳng để thiết kế các mô đun bù đắp kiến thức, kỹ năng cần thiết.

5. Kết quả đào tạo thí điểm lớp GVDN hàn cho thấy điều gì?
Lớp thí điểm học theo chương trình liên thông từ CNKT đạt kết quả học tập tốt hơn lớp đối chứng truyền thống, đặc biệt về năng lực thực hành nghề và khả năng vận dụng phương pháp dạy học tích hợp, đồng thời rút ngắn thời gian đào tạo tại trường sư phạm kỹ thuật.

Kết luận

Luận án "Xây dựng mô hình đào tạo liên thông giáo viên dạy nghề từ công nhân kỹ thuật" của tác giả Nguyễn Xuân Mai đã giải quyết thấu đáo vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển đội ngũ giáo viên cho hệ thống dạy nghề Việt Nam. Bằng việc đề xuất mô hình đào tạo liên thông dựa trên học chế tín chỉ/mô đun và tiếp cận năng lực thực hiện, công trình mở ra hướng đi khả thi để mở rộng quy mô, đa dạng hóa cơ cấu ngành nghề và bảo đảm chất lượng tay nghề cho đội ngũ giáo viên dạy nghề. Các đóng góp về cấu trúc chương trình khung, chương trình chuyển tiếp nghề Hàn và kết quả thực nghiệm sư phạm là căn cứ khoa học quan trọng phục vụ công cuộc đổi mới giáo dục nghề nghiệp giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.