Chương 1 KINH TẾ NÔNG HỘ VÀ “CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN” – MỘT MÔ HÌNH THÍCH HỢP ĐỂ CHUYỂN KINH TẾ NÔNG HỘ LÊN SẢN XUẤT HÀNG HÓA LỚN 1. NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA KINH TẾ NÔNG HỘ 1.1 Định nghĩa kinh tế hộ Có nhiều quan niệm về hộ. Raul Iturna, giáo sư trường đại học Tổng hợp Lisbon cho rằng: “ Hộ là một tập hợp những người cùng chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng”[37, tr114]. Về phương diện thống kê, Liên hợp quốc cho rằng: “ Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung ngân quỹ”[36, tr38].
Khi khảo sát “kinh tế hộ trong quá trình phát triển” Giáo sư T.Mc Gee, Giám đốc viện nghiên cứu Châu Á nhận xét: “ Ở các nước Châu Á hầu hết người ta quan niệm hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng chung huyết tộc ở chung trong một mái nhà, ăn chung một mâm cơm và có chung ngân quỹ”[38]. Trên quan điểm kinh tế thị trường có thể định nghĩa khái quát về kinh tế nông hộ như sau: Kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động trong gia đình kết hợp với tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu (hay quyền chiếm hữu) của hộ trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân hộ, chỉ có sản phẩm thừa ra mới đem bán. Đó là bản chất của kinh tế hộ, trong thực tiễn có những biểu hiện cụ thể khác biệt nên hiện nay ở nước ta có những loại hộ sau đây: Một là, những hộ nông dân không có vốn, không có nông cụ cần thiết và thường thiếu tri thức về nông học, quy mô kinh doanh quá nhỏ, sản lượng thu được không đủ nuôi sống gia đình, nên cho thuê hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được chia của mình rồi đi làm thuê, chỉ trồng ít rau trong vườn và nuôi 8 gia cầm để tự tiêu dùng cải thiện đời sống của hộ. Chính điều này tạo điều kiện hình thành và phát triển thị trường lao động.
Hai là, những hộ nông dân có gieo trồng một ít, thường phải canh tác ruộng đất của mình bằng cách thuê sức kéo. Những hộ này rất khó vay vốn, lao động chính của hộ thường đi làm thuê ngay tại chỗ hoặc đi tìm việc ở nơi khác, việc canh tác giao cho phụ nữ, người già và trẻ em, do đó thu nhập của hộ là rất ít, dễ bị suy sụp, chỉ cần bị thiên tai, mất mùa là rơi vào tình trạng phá sản. Đây là những hộ nửa nông dân, nửa công nhân, nhưng có thể gộp loại nông hộ này với loại nông hộ hoàn toàn không gieo trồng gì vào tầng lớp vô sản ở nông thôn. Ba là, các hộ nông dân bậc trung.
Những hộ này có diện tích gieo trồng phù hợp với số lao động trong hộ. Ngoài canh tác trên phần diện tích được chia, hộ loại này thường thuê thêm hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thêm một diện tích nữa, do đó khi thời vụ khẩn cấp họ thường thuê thêm lao động. Một bộ phận hộ loại này còn mang nặng tính chất tự cung tự cấp, diện tích thương phẩm rất hẹp. Mục đích chính của hộ là tự lo đủ số lương thực, thực phẩm cần thiết cho gia đình mình, chỉ có sản phẩm dư thừa mới được đưa ra thị trường nên việc canh tác của họ rất bấp bênh.
Sản xuất với mục đích tự cấp, tự túc nên sức mua của hộ thấp, chính điều này đã gây trở ngại cho sự phát triển của nông nghiệp và kinh tế thị trường. Một bộ phận khác của số hộ thuộc loại này đã chuyên môn hóa sản xuất, cả đầu vào và đầu ra đều thông qua thị trường, hoàn toàn là sản xuất hàng hóa. Cạnh tranh gay gắt thúc đẩy sự phân hóa các hộ nông dân bậc trung thành những người bị phá sản phải đi làm thuê và một số ít trở thành chủ trang trại kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa, mua sức lạo động trên thị trường. Bốn là, những hộ chủ trang trại thuê được diện tích canh tác quy mô lớn, mục đích kinh doanh nhằm thu lợi nhuận, chủ yếu dựa vào việc sử dụng công nhân làm thuê.
Trong nông nghiệp cũng có những lĩnh vực sản xuất nhỏ chiếm 9 ưu thế, nhưng với những điều kiện như nhau thì doanh nghiệp lớn vẫn ưu việt hơn doanh nghiệp nhỏ. Chủ trang trại là lực lượng tiêu biểu cho kinh tế thì trường. Nhưng hiện nay ở nước ta phần lớn trang trại vẫn là gia trại quy mô nhỏ, số trang trại thực sự sản xuất hàng hóa lớn chưa nhiều. Những ưu điểm của kinh tế hộ Kinh tếhô ̣phùhơp̣ với nền nông nghiêp̣ lac̣ hâụ , mang năng̣ tinh́- chất tư ̣ cung, tư ̣cấp chủyếu dư ̣ a vào lao đông̣ thủcông , phân tán , manh mún.
Nghị quyết 10 về Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, trong đó xác định rõ vai trò của kinh tế hộ, coi hộ gia đình xã viên hợp tác xã nông nghiệp là đơn vị kinh tế tự chủ được giao quyền sử dụng đất. Thực hiện tư tưởng đổi mới của Đại hội Đảng toàn quốc lần VI, ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 10 về “ Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” (thường gọi là khoán 10). Nghị quyết 10 chỉ rõ: “Giao khoán ruộng đất ổn định dài hạn cho nông dân từ 10 đến 15 năm; Hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến hộ xã viên; Xoá bỏ chế độ phân phối công điểm, xã viên chỉ có một nghĩa vụ nộp thuế; Hộ xã viên được. quyền tự chủ về ruộng đất, hưởng trên 40% sản lượng khoán” Như vậy với Nghị quyết này, lực lượng sản xuất được giải phóng mạnh hơn khỏi sự trói buộc của cơ chế cũ.
Hộ nông dân đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ. So với giai đoạn thực hiện khoán 100, thì ở giai đoạn này vai trò tự chủ của hộ nông dân được khẳng định và xác lập trên thực tế. Hộ nông dân tự chủ không phải chỉ trong 3 khâu như giai đoạn trước mà trong toàn bộ quá trình sản xuất. Mức độ tự chủ cũng cao hơn, trên cả 3 phương diện: sở hữu, quản lý và phân phối.
Do đó, động lực mới được phát huy trong thời gian dài. Ở nhiều địa phương, hộ nông dân đã bỏ công sức để khai phá diện tích đất hoang hoá đưa vào sản xuất, chủ động mua sắm máy móc, công cụ để sản xuất. Về số lượng, cho tới năm 1993, nông thôn nước ta có khoảng 11 triệu hộ nông dân được phân bố trong 7 vùng nông nghiệp. Bình quân mỗi xã có 1000 hộ và mỗi thôn ấp có khoảng 200 hộ [13].
Khác với các 10 nông hộ thời kỳ tiền hợp tác, các hộ nông dân thời kỳ này có sự phong phú về loại hình, về cơ cấu ngành nghề. Sự phân hóa về sản xuất và mức thu nhập cũng bộc lộ rõ. Việc xác định vai trò kinh tế tự chủ của hộ nông dân và thực hiện vai trò đó trong thực tế đã dẫn đến kết quả: hộ nông dân là đợn vị kinh tế chủ yếu ở nông thôn thay thế cho vai trò độc tôn của các hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ trước đây. Vai trò, địa vị kinh tế chủ yếu thể hiện ở chỗ hộ nông dân là hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp, cung cấp đại bộ phận nông phẩm cho xã hội.
Về nông sản thực phẩm, kinh tế hộ đã cung cấp 95%-98% sản phẩm chăn nuôi và gần 100% rau quả. Về sản phẩm lương thực, kinh tế hộ đã tạo ra một khối lượng hàng hoá chiếm tỷ trọng khoảng trên dưới 90%, trong đó xuất khẩu là 1,5-2 triệu tấn/ năm [13]. Sau một thời gian “khoán 10” đi vào thực tiễn, có thể dễ dàng thấy rằng kinh tế nông nghiệp ở nước ta phát triển mạnh phần lớn là nhờ vào sự năng động của kinh tế hộ. Tác dụng của cơ chế Khoán 10 cùng với những thành tựu về thủy lợi, cải tạo giống, thâm canh tăng năng suất ở đồng bằng Bắc Bộ và mở rộng diện tích đất canh tác ở đồng bằng sông Cửu Long đã đưa nền nông nghiệp Việt Nam sang trang sử mới.
Từ chỗ thiếu ăn triền miên, đến năm 1988 vẫn còn phải nhập khẩu hơn 450.000 tấn gạo, nhưng từ năm 1989, Việt Nam vừa bảo đảm nhu cầu lương thực trong nước, có dự trữ, vừa xuất khẩu gạo mỗi năm từ 1 đến 1,5 triệu tấn, tiến dần lên 4 đến 4,5 triệu tấn rồi trên 6 triệu tấn như hiện nay. Kinh tế nông hộ có những ưu điểm sau: Một là, toàn bộ kết quả sản xuất sau khi trừ khoản nộp thuế và những nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, thuộc quyền định đoạt của hộ, được tự do mua bán trên thị trường nên thu nhập và mức sống của hộ tăng lên. Kể từ năm 1988, việc chuyển sang phát triển kinh tế hộ, lấy hộ làm đơn vị kinh tế cơ bản trong nông thôn thì thu nhập và mức sống của nông dân càng được nâng lên. Hạt lúa đã gắn với công sức và quyền lợi của người nông dân, đây là động lực quan 11 trọng để người nông dân chăm lo đến nông nghiệp.
Những hộ nông dân có nhiều đất đai, nhiều vốn đã mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, hoặc chuyển sang ngành nghề khác, tiến hành sản xuất hàng hoá. Những mặt tích cực và hiệu quả kinh tế của mô hình này đã được chứng minh trong thực tế. Sự xác lập và phát triển vai trò tự chủ của nông hộ đã có tác động to lớn tới sự phát triển của kinh tế nông nghiệp và nông thôn nước ta trong những năm đổi mới. Hai là, lợi ích kinh tế nói trên đã kích thích tinh thần tự giác, tự nguyện lao động tích cực của những người trong hộ và khơi dậy các tiềm năng của hộ.
Hộ nông dân trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, những thay đổi lớn về vị trí, vai trò của kinh tế hộ đã khơi dậy tiềm năng to lớn ẩn dấu trong từng hộ gia đình, từ chỗ không thiết tha đến ruộng đất, nông dân đã có ý thức chăm sóc, cải tạo và sử dụng đất đai có hiệu quả hơn, kích thích những người trong hộ tự nguyện lao động. Khác với trong công nghiệp, đơn vị sản xuất cơ bản có tính phổ biến trong nông nghiệp là từng hộ nông dân chứ không phải là xí nghiệp quy mô lớn với đông đảo công nhân.