MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Rừng ngập mặn có vai trò rất quan trọng bởi các lợi ích về kinh tế xã hội, cũng nhƣ môi trƣờng. Tuy nhiên, rừng ngập mặn đang bị suy thoái nghiêm trọng sức ép của sự tăng nhanh dân số, phát triển kinh tế xã hội, quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên chƣa hợp lý. Lƣu vực vịnh Cửa Lục những năm gần đây đang diễn ra nhiều dạng hoạt động kinh tế rất sôi động (khai thác than, xây dựng và đƣa vào hoạt động cảng biển nƣớc sâu Cái Lân, phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, khu công nghiệp và đô thị hoá.) làm biến đổi mạnh các cảnh quan và gây ô nhiễm môi trƣờng.
Đặc biệt, làm gia tăng mạnh xói mòn, rửa trôi và gây bồi lắng vịnh Cửa Lục, làm thay đổi bất thƣờng các cảnh quan ngập nƣớc, xuất hiện nguy cơ mất ổn định vịnh và sự phát triển kinh tế của khu vực. Việt Nam nói chung, Quảng Ninh nói riêng đã có nhiều cố gắng trong việc bảo tồn, quản lý và phục hồi các hệ sinh thái rừng ngập mặn nhƣng vẫn còn nhiều thách thức và bất cập. Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng là chiến lƣợc toàn diện nhằm xác định những vấn đề mang tính nhiều mặt ảnh hƣởng đến tài nguyên ven biển thông qua sự tham gia tích cực và có ý nghĩa của những cộng đồng ven biển. Việc quản lý hệ sinh thái rừng ngập mặn yêu cầu phải thu thập có hệ thống, đầy đủ thông tin về hiện trạng đa dạng sinh học, tầm quan trọng cũng nhƣ vai trò kinh tế-xã hội, xác định những nguyên nhân đe dọa hoặc làm suy thoái các hệ sinh thái.
Tuy nhiên, rừng ngập mặn xã Lê Lợi, huyện Hoành Bồ vẫn còn chƣa đƣợc điều tra, nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ, việc quản lý, bảo tồn vẫn chƣa đƣợc hiệu quả. Kết quả nghiên cứu của đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất mô hình bảo tồn rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng tại xã Lê Lợi, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh” sẽ hỗ trợ cho các nghiên cứu tiếp theo và cung cấp thông tin cho nhà lãnh đạo và các nhà quản lý môi trƣờng tại địa phƣơng có các định hƣớng và chính sách quản lý bảo tồn, khôi phục và sử dụng bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn một cách hiệu quả nhằm 7 mang lại lợi ích trực tiếp cho ngƣời dân vùng ven biển cũng nhƣ góp phần vào việc ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền vững. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học rừng ngập mặn (thực vật, các loài thủy hải sản, chim…) và hiện trạng quản lý rừng ngập mặn tại khu vực nghiên cứu làm cơ sở cho việc hoạch định và xây dựng các biện pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn bền vững trƣớc mắt và lâu dài. - Đề xuất mô hình bảo tồn nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, cải thiện đời sống kinh tế của ngƣời dân ven biển và nâng cao trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng địa phƣơng.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài là những dẫn liệu khoa học cập nhật về hiện trạng và mức độ đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng ngập mặn ở khu vực nghiên cứu. Đồng thời làm cơ sở khoa học cho việc phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn với các loài thích hợp, vừa mang tính phòng hộ, bảo vệ môi trƣờng, bảo tồn đa dạng sinh học vừa góp phần cải thiện cuộc sống của ngƣời dân trong vùng. Giúp các cán bộ nghiên cứu về môi trƣờng và nông nghiệp cũng nhƣ các ngành liên quan khác đƣa ra những khuyến nghị cho hoạt động phát triển sinh kế bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và thúc đẩy quản lý tài nguyên thiên nhiên trong khu vực rừng ngập mặn. Nội dung nghiên cứu - Điều tra, khảo sát đa dạng sinh học cây ngập mặn và các loài thủy hải sản tại khu vực nghiên cứu.
- Đánh giá hiện trạng công tác quản lý và bảo tồn của khu vực. - Đề xuất mô hình bảo tồn rừng ngập mặn dựa vào cộng đồng. 8 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về rừng ngập mặn 1.
Giới thiệu chung về hệ sinh thái rừng ngập mặn Rừng ngập mặn là một loại rừng đặc biệt ở vùng cửa sông, ven biển của các nƣớc nhiệt đới và cận nhiệt đới. Trong rừng ngập mặn chỉ có một số loài cây sống đƣợc, đó là cây ngập mặn. Cây ngập mặn sinh trƣởng và phát triển tốt trên các bãi bùn lầy ngập nƣớc biển, nƣớc lợ có thủy triều lên xuống hàng ngày, khác với cây rừng trong đất liền và cây nông nghiệp chỉ sống ở nơi có nƣớc ngọt [2]. Các dịch vụ của hệ sinh thái rừng ngập mặn a.
Dịch vụ cung cấp - Cung cấp sản phẩm lâm nghiệp Các loài cây ngập mặn ở Việt Nam đƣợc xếp vào một số nhóm có công dụng chủ yếu sau: 30 loài cung cấp gỗ, củi, than; 14 loài cung cấp tannin; 24 loài có thể sử dụng làm phân xanh nông nghiệp,cải tạo đất hoặc giữ đất; 15 loài có thể làm thuốc nam; 21 loài có thể dùng nuôi ong và 1 loài có thể dùng làm đƣờng, sáp. Ngoài ra còn phải kể tới các công dụng khác nhƣ: làm giấy, nhuộm lƣới, làm các dụng cụ đánh bắt thủy hải sản; Vỏ các loài cây rừng ngập mặn đƣợc dùng trong công nghệ thuộc da; Sử dụng trong công nghiệp nhƣ Lie làm nút chai, cốt mũ, cho sợi. - Cung cấp các các loài hải sản có giá trị kinh tế Rừng ngập mặn đƣợc coi là hệ sinh thái có năng suất sinh học cao nhất, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản [15]. Ngoài việc lƣu giữ một khối lƣợng muối khoáng, rừng còn cung cấp mùn bã hữu cơ đã tạo nên thức ăn chủ yếu cho các nhóm tiêu thụ sơ cấp nhƣ cua, tôm, cá, loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ, giun nhiều tơ và các loài cá ăn mùn bã hữu cơ [2, 16, 19].
Theo các nghiên cứu của Midas (1995), Talbot và Wilkenson (2001) ở Thái Lan và Malaysia, mỗi năm rừng ngập mặn ven biển cung cấp những nguồn hải sản có giá trị kinh tế cao nhƣ: tôm he, cua bể, cá, ốc, sò lông, sò huyết. 9 Ở Việt Nam, nhờ có rừng ngập mặn phục hồi mà lƣợng nghêu giống ở Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng trong những năm gần đây đều tăng nhanh, tạo nguồn thu nhập lớn cho dân địa phƣơng. Hàng năm ngƣ dân ở Tiền Hải, Thái Thụy đánh bắt đƣợc 330-730 kg/ha các loại ngao, vạng, sò ở các bãi cát, bãi nuôi trƣớc rừng ngập mặn. Ngƣ dân vùng cửa sông còn đánh bắt đƣợc cá thẻ vàng (Sciena sp.) là loài cá vào vùng cửa sông của rừng ngập mặn kiếm mồi.
Bong bóng của loài cá này dùng chế biến chỉ khâu y tế tự tiêu ít nhiễm trùng (ở Hồng Kông giá mua từ 10.000 đô la Mỹ/bong bóng) [13]. Kết quả khảo sát của các nghiên cứu ở Indonesia và Australia cho thấy, có một mối liên quan mật thiết giữa sản lƣợng và các loại thủy sản đánh bắt đƣợc ở rừng ngập mặn [11, 16] b. Dịch vụ điều hòa: - Làm chậm dòng chảy và phát tán rộng Các nghiên cứu của Phan Nguyên Hồng và nnk (2007) cho thấy nhờ có hệ thống rễ dày đặc trên mặt đất nhƣ hệ rễ chống của các loài đƣớc (Rhizophora sp.), rễ hình đầu gối của các loài vẹt (Bruguiera sp.), rễ thở hình chông của các loài mắm (Avicennia sp.) và bần ( Sonneratia sp.) cản sóng và tích lũy phù sa cùng mùn bã thực vật tại chỗ, nên chúng có tác dụng làm chậm dòng chảy và thích nghi với mực nƣớc biển dâng. Nhờ các trụ mầm (cây con) và quả, hạt có khả năng sống dài ngày trong nƣớc, nên cây ngập mặn có thể phát tán rộng vào đất liền khi nƣớc biển dâng làm ngập các vùng đất đó.
- Làm giảm độ cao của sóng khi triều cường Sau đợt sóng thần ngày 26/12/2004 ở Indonesia, một số nhà khoa học nhƣ Mazda (2006), Sriskanthan (2006) và một số tổ chức quốc tế nhƣ IUCN (2005) và UNEP (2005) và Wetland International (2005) đều đánh giá cao vai trò của rừng ngập mặn trong việc làm giảm nhẹ lực tác động của sóng và bảo vệ dân cƣ, cũng nhƣ hạ tầng cơ sở ở vùng ven biển. Rừng ngập mặn có thể làm giảm 50-75% chiều cao của sóng và 90% năng lƣợng của sóng lớn [14]. 10 Ngƣ dân còn lợi dụng các vùng có cây ngập mặn để neo thuyền trong suốt mùa mƣa [38]. - Rừng ngập mặn giúp làm giảm thiệt hại do bão, sóng thần gây ra Ngày 11/4/2012, sau kết quả điều tra 2 trận động đất dƣới lòng biển Ấn Độ Dƣơng gần tỉnh Aceh (Indonesia), các nhà khoa học cũng khẳng định bờ biển Việt Nam có thể đã từng bị sóng thần cao từ 2-3m tràn vào tại bờ biển Trà Cổ năm 1978, Diễn Châu vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 và ở bờ biển Nha Trang vào năm 1923 [41] Các mô hình phân tích từ dự án EqTAP (Phát triển công nghệ giảm nhẹ động đất, thảm họa sóng thần và sự tích hợp chúng vào khu vực Châu Á-Thái Bình Dƣơng) đã cho thấy rằng 30 cây/100 m2 trong 1 vành đai rộng 100m có thể làm giảm tốc độ dòng chảy của sóng thần khoảng 90% [37].
Rừng ngập mặn cũng góp phần giảm chi phí tu bổ đê điều hàng năm. Ở huyện Thái Thụy từ năm 1994-2004, khi các cơn bão lớn đổ bộ vào các tỉnh phía Bắc từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa, các tuyến đê có rừng ngập mặn phòng hộ vẫn an toàn [14] - Hạn chế xâm nhập mặn và bảo vệ nước ngầm Khi có rừng ngập mặn, quá trình xâm nhập mặn diễn ra chậm và phạm vi hẹp. Nhờ có rừng ngập mặn, khi triều lên, sóng yếu, tiêu nƣớc tốt, nên nƣớc mặn không vào sâu. Rừng ngập mặn có tán lá dày chắn không cho ánh sáng trực xạ chiếu thẳng xuống đất, nhiệt độ của đất không cao, thuận lợi cho hoạt động phân giải của vi sinh vật.
Tán cây cũng làm giảm sự bốc hơi nƣớc khi triều ròng nên không có hiện tƣợng muối kéo lên mặt làm cho đất mặn hóa mạnh nhƣ ở nơi không có rừng. Các lớp đất có than bùn ở các tầng sâu có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ nƣớc ngầm. Khi mất rừng, dòng triều và gió đông bắc đƣa nƣớc mặn vào sâu kèm theo sóng gây ra xói lở bờ sông và cả các chân đê.