Chương 1 trình bay đặc điểm của dự án lặp, các phương pháp lập tiễn độ lặp và hạn chế của chúng. Ngoài ra, các lợi ich của mô hình 4D cũng được dé cap trong chương nay. Từ đó nêu lên các mục tiêu và phạm vi nghiên cứu cua luận van. Chương 2 cung cấp một cái nhìn tổng thé về các nghiên cứu trước đây liên quan đến các chủ đề như phương pháp lập tiến độ lặp, BIM và mô hình tích hợp 4D- BIM với phương pháp lập tiễn độ lặp.
Chương 3 mô tả quá trình phát triển phương pháp lập tiến độ lặp định hướng bởi tài nguyên. Bên cạnh đó, một ví dụ minh họa cho việc sử dụng phương pháp này được đưa ra ở phân sau của chương. Chương 4 trình bày quá trình tích hợp tiến độ vào mô hình 3D để tạo thành mô hình 4D. Sau đó, một một dự án giả định được áp dụng để minh họa quá trình xây dựng mô hình 4D trong phần mềm Revit Structure.
Qua đó, các ứng dụng của mô hình này như trực quan hóa tiễn độ, trực quan hóa dòng di chuyển của nhân công và tự động bóc tách khôi lượng được nêu lên ở phân cudi của chương. Chương 5 tổng kết những kết quả chính tìm được trong quá trình nghiên cứu và sau đó nêu lên những giới hạn cũng như hướng phát trién của đê tai. CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN Chương nảy tổng kết những nghiên cứu trước đây liên quan đến phương pháp lập tiến độ dự án lặp và ứng dụng của BIM trong quá trình thực hiện dự án. Trước tiên chương này trình bày ưu và nhược điểm của các một số phương pháp lập tiễn độ cho dự án lặp.
Sau đó, các ứng dụng của BIM nói chung và 4D-BIM nói riêng được néu lên ở phân cuôi của chương. Các phương pháp lập tiễn độ cho dự án lặp 2. Phương pháp sơ đồ mạng CPM CPM là một phương pháp lập tiễn độ được phát triển và giới thiệu vào nữa sau của thập niên 50 bởi Morgan R. Trong phương pháp nay, một sơ dé mạng được sử dụng dé biéu diễn toàn bộ các công tac va mối quan hệ trước sau giữa chúng.
Thông qua hai lượt tính “Forward” và “Backward” tất cả các thông số của sơ dé mạng như khởi sớm - kết sớm, khởi muộn - kết muộn và thời gian dự trữ của từng công tác cũng như của của toàn dự án sẽ được xác định. Tuy nhiên, việc áp dụng CPM để lập tiễn độ cho dự án lặp gặp phải một số hạn chế như sau. Thứ nhất, sơ đồ mạng có SỐ lượng công tác lớn do việc thực hiện lặp đi lặp lại từ phân khu này sang phân khu khác. Thứ hai, việc tính toán thời điêm bat dau va kêt thúc công tác được tính toán với giả định về sự săn có của LF=6 LS=6 D=1 Phan khu 3 E3 LS=7 D=1 LF=8 4 | D3 | | | LS=6 D=1 LF=7 | l | ˆ | | | | | | | | | Ï | | | Phan khu 2 1 C1 nh / L§1 D=2 LF=3 | LS=4 D=1 LF=5 \ j \ Phân khu 1 M \ S0 D=1 LF=1 D=1 LF=6 less res oes D=1 LF=5 Hình 2.1 Sơ đồ mạng cho dự án lặp tài nguyên, và chỉ phụ thuộc vào mối quan hệ với các công tác đứng trước.
Do đó, điêu kiện về sự liên tục của các tô đội không được đảm bảo Hình 2.1 minh họa sơ đồ mạng cho một dự án lặp gồm có 5 công tác được lặp lại ở 3 phân khu. Trong vi dụ này, các công tác A, B và D được đảm bao tính liên tục, trong khi 2 công tác C và E bị gián đoạn khi di chuyển từ phân khu 1 sang phân khu 2.1 Các phương pháp đồ thị dé lập tiến độ dự án lặp (Huang và Sun, 2006) Tác gia Phương pháp | Tốc độ | Đa tài Tất cả thi công | nguyên | các công có thể được gan | tác đều thay đối | vào một | liên tục công tác Carr và Meyer |LOB N Y (1974) O’Brien (1975) VPM N N Y Selinger (1980) Const. planning Y N Y Johnston (1981) LSM Y N Dé nghi Stradal và Cacha | Time space Y N Dé nghi (1982) scheduling Arditi va Albulak |LOB N N Y (1986) Chrzanowski va |LSM Y N Y Johnston (1986) Reda (1990) RPM N N Y El-Rays va Moselhi | Resource driven | Y N N (1998) scheduling Harmelink va | Linear N N Y Rowings (1998) Scheduling Model Harris va loanou | RSM Y N N (1998) Hegazy va Wassef | Repetitive N N N (2001) nonserial activity scheduling 2. Các phương pháp đồ họa Đề khắc phục các nhược điểm về số lượng các công tác trong sơ đồ mạng và không đảm bảo tính liên của các tổ đội thi công khi sử dụng CPM để lập tiễn độ cho dự án lặp, nhiễu phương pháp khác nhau, được liệt kê ở bảng Bảng 2.1, được phát triển dành riêng cho loại dự án này.
Các phương pháp này có đặc điểm chung là biéu diễn các công tác trên một đồ thị với 2 trục thời gian và địa điểm. Tuy nhiên mỗi phương pháp lại có những đặc điểm và phạm vi ứng dụng II khác nhau. Các phan tiếp sau đây trình bay cụ thé hơn về 2 phương pháp tiêu biểu nhất đó là LOB va RSM, như sau. Line of Balance (LOB) Trong phương pháp nay tiến độ thực hiện dự án được biểu diễn trên một đồ thị gồm hai trục thời gian và vị trí như Hình 2.
Trong đó: ° Mỗi thanh xiên biểu diễn một công tác (A, B, C hay D) của dự án với bề rộng của nó tương ứng với thời gian thực hiện của công tác đó trong một phân khu. ° Mỗi thanh ngang tại một tung độ (tương ứng phân khu) bat kỳ có hoanh độ của điểm dau và cuối tương ứng với thời điểm bat đầu và kết thúc công việc trong phân khu đó. e Độ dôc của môi thanh xiên biêu diễn toc độ thi công theo kê hoạch. = — ob a cđ a Ww Sk CREW | oO ar CREW 2 5 5 Œ m- CREW | oe CREW | lứ =| = CREW | FE ưì =| Ss J CREW 2 iL rot re) a CREW | or CREW | ° z | | | | | rae Se (000 ee EE Eee SP cv (a) TIME, t (b) TIME, 1 Hình 2.2 Tiến độ thi công được biểu diễn theo phương pháp LOB (Arditi va Albulak, 1986) ° Thời điểm kết thúc của công tác cuối cùng ở phân khu cuối cùng quyết định thời điểm kết thúc của dự án.
e Trong trường hợp có nhiều tô đội cùng thực hiện một công tác thì các thanh ngang của công tác đó sẽ được ký hiệu hoặc ghi chú để phân biệt vị trí làm việc của từng tổ đội theo thời gian. Các giả định được sử dụng trong phương pháp nay bao gồm: e Tốc độ thi công của từng tô đội được được duy trì không đôi. e Nhân công va thiết bị làm việc liên tục xuyên suốt quá trình thực thi công. Phương pháp này đảm bảo tính liên tục của các tô đội thi công trong khi vân giữ môi quan hệ trước sau giữa các công tác trong cùng một phân khu thi công, và cung cap một cách biéu diên tiên độ cho các dự án với sô lượng các phân khu lớn.
Repetitive Scheduling Method (RSM) Phương pháp nay được Harris và Ioannou (1998) giới thiệu sau khi tong hop các phương pháp lập tiến độ dự án lặp đã có trước đó. Trong phương pháp này tiễn độ thi công cũng được thể hiện trên một biểu đồ gồm hai trục thời gian va trục vị trí, tương tự như phương pháp LOB. Mỗi công tác ở một phân khu thi công nhất định được biéu diễn bang mot doan thang có điểm bat đầu và kết thúc tương ứng với thời điểm bắt đầu và kết thúc công việc, như Hình 2.3 Biểu diễn tiến độ thi công theo phương pháp RSM Việc đảm bảo điều kiện liên tục cho tất các công tác sẽ làm gia tăng thời gian thực hiện dự án. Do đó, phương pháp này cho phép sự không liên tục của một số công tác không can thiết.
Day là điểm khác biệt của phương pháp nay so với phương pháp LOB. Ngoài ra, độ dốc của các đoạn thăng đại diện cho các phân khu khác nhau của cùng một công việc có thể khác nhau. Điều này đồng nghĩa rang tốc độ thực hiện (tinh bằng số phân khu/thời gian) của một tổ đội nao đó có thể khác nhau ở các phân khu khác nhau. Building Information Modeling (BIM) 2.
BIM là gì? BIM thực sự không chỉ là phần mềm như nhiều người vẫn nghĩ. BIM thực ra là một cách thức thực hiện dự án, trong đó, các thông tin liên quan đến dự án được lưu trữ và quản lý trong các mô hình số được gọi là các mô hình BIM. Nhờ vậy, nó góp phần nâng cao hiệu quả trong việc phối hợp giữa các bên và tạo điều kiện cho sự tham gia đầy đủ của các bên ngay từ giai đoạn đầu của quá trình 14 thực hiện dự án. Tùy theo nhu cầu sử dụng, các mô hình số này có thể chứa nhiều hơn các thông tin 3 chiều (3D Model), và khi đó chúng sẽ có các tên gọi khác như 4D (chứa thông tin về thời gian); hay 5D (thời gian và chi phi).
BIM - Nền tảng cho Integrated Project Delivery (IPD) Integrated Project Delivery (IPD) được tạm dịch là phương thức thực hiện dự án tích hợp. Đây là là một phương pháp tích hợp nhiều người, nhiều hệ thống, nhiều cơ cấu kinh doanh vào một quy trình duy nhất trong đó mọi thành viên cùng phối hợp để tối ưu hiệu quả dự án, tăng giá trị cho chủ đầu tư, giảm thiểu lãng phí, tăng hiệu quả trong tất cả các giai đoạn thiết kế, chế tạo và thi công (AIA) (2007). Theo Kent và Becerik-Gerber (2010), trong phương pháp thực hiện dự án truyền thống, chủ dau tư thường phải có 2 hợp đồng riêng biệt được ký kết với tư van thiết kế và nhà thầu. Khi IPD được áp dụng, chỉ có 1 hợp đồng duy nhất cho toàn bộ dự án và đồng thời được ký bởi chủ dau tư, tư vấn thiết kế, tong thầu va các bên khác liên quan đến dự án.
Đây là loại hợp đồng cho phép hiện thực hóa mục tiêu tối đa hóa hiệu quả phối hợp giữa các bên của phương thức IPD. Ngoài ra, loại hợp đồng này đảm bảo rằng tất cả các thành viên trong nhóm sẻ thực hiện dự án cùng hướng đến thành công chung của dự án và cùng chia sẻ rủi ro. Điều này khác so với phương pháp truyền thông khi mỗi bên đều muốn tối đa hóa lợi ích và tôi thiêu hóa rủi ro của riêng họ.